CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc516/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra
2
nhưng có gửi tiền và hiện nay vẫn còn gửi tiền qua trại giam Kênh 5 nên chúng tôi
đã ly thân hơn 01 năm nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn
được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết
cho tôi được ly hôn với chồng tôi là Võ Minh C.
Về con chung: Tôi xác định có 01 người con chung tên Võ Huỳnh Bảo H -
sinh ngày 08/5/2021, hiện nay con đang sống với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và tôi không yêu cầu anh C phải cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tôi xác định vợ chồng không có tạo lập được tài sản chung
nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có
thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với chồng tôi là Võ Minh C.
Về con chung: Tôi xác định có 01 người con chung tên Võ Huỳnh Bảo H -
sinh ngày 08/5/2021, hiện nay con đang sống với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và tôi không yêu cầu anh C phải cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên tôi không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại bản tự khai ngày 10/3/2026 thì anh Võ Minh C trình bày: Tôi và chị T
có tìm hiểu nhau trước được một thời gian nên năm 2019 chúng tôi tiến tới hôn
nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, hôn nhân tự nguyện và có
đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang (cũ)
vào ngày 15/6/2021.
Quá trình chung sống giữa tôi và chị T có xảy ra mâu thuẫn nhưng tôi xét thấy
là không trầm trọng, từ ngày tôi bị bắt và đưa vào trại giam thì chị T không có đến
thăm nuôi và tôi cũng không có thông tin gì về chị T. Qua yêu cầu xin ly hôn của
chị T thì tôi không đồng ý ly hôn vì xét thấy tôi còn thương vợ thương con.
Về con chung: Tôi và chị T có 01 người con chung tên Võ Huỳnh Bảo H -
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.