CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc222/2026/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2026 về việc: “Ly hôn”, theo
2
chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông M yêu
cầu được ly hôn với bà H.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hoàng P, sinh năm
1993 đã tành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Bị đơn bà Ngô Thị Minh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Hoàng M khởi kiện bà Ngô Thị Minh H yêu cầu ly hôn nên
xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn” theo quy định tại
khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Ngô Thị Minh H là bị đơn cư trú tại xã G, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án
này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng M có yêu cầu xét xử
vắng mặt, bị đơn bà Ngô Thị Minh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
1, 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông M, bà H là
phù hợp.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hoàng M và bà Ngô Thị Minh
H trên cơ sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có
tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre
(nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2001. Xét thấy, hôn nhân của ông M và
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.