CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQuyết định hoãn phiên tòa số 101/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026,
2
1. Theo đơn khởi kiện ngày 05/12/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn H tìm hiểu và tự nguyện đăng ký
kết hôn năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã N,
tỉnh Đồng Nai). Trong thời gian chung sống, càng ngày càng nảy sinh những bất đồng
không thể giải quyết. Cụ thể đến tháng 5/2024, anh H bỏ về nhà mẹ đẻ, chị dọn ra ở
riêng và chăm sóc con cho đến nay. Chị yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 12/5/2016. Hiện
chị là giáo viên, thu nhập 10.000.000 đồng/tháng, anh H là tài xế công ty K tại khu
công nghiệp M, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh thu nhập khoảng 15.000.000
đồng/tháng. Ly hôn, chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Đ, chị yêu cầu anh H
cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2. Bị đơn anh Phạm Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt
không có ý kiến trình bày.
3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan
hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ và tiến hành
tố tụng đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn được đảm bảo về quyền và lợi
ích hợp pháp. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không
thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị
T đối với bị đơn anh Phạm Văn H, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh H;
Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 12/5/2016. Xét thấy, cháu
Đ đang do chị T nuôi dưỡng, cháu Đ có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ, anh H
không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con, đề nghị xử giao cháu Đ cho chị T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: Chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi
tháng 3.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con;
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.