Mục lục - 3 điều ▼
Điều 39. , Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015; Khoản 1, 2 Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 131, khoản 4
Điều 237. , Điều 241, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với
ông Nguyễn Xuân T2 về yêu cầu Tòa án tuyên “Giấy chuyển nhượng đất” ngày
25-7-2010 có hiệu lực pháp luật; buộc ông T2, bà B xử lý tài sản trên đất, khôi
phục lại tình trạng ban đầu và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S theo kết quả Trích đo hiện
trạng sử dụng đất ngày 02-7-2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đối
với diện tích đất là 117,9m2, tại thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc thôn B, xã
T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, theo CSDL là thửa 801, tờ bản đồ số 3, nay là
thôn Đ, xã N, thành phố Đà Nẵng. Ông T, bà S đồng ý trả thêm cho ông T2, bà
B số tiền 150.000.000 đồng;
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Xuân T2 về việc yêu cầu Tòa
án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Theo đó, tuyên bố “Giấy chuyển nhượng
đất ngày 25-7-2010” giữa ông Nguyễn Xuân T2 và ông Nguyễn Văn T, bà
Nguyễn Thị S vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Xuân T2 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn T và
bà Nguyễn Thị S số tiền 69.168.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án
phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quy định về thi hành án của các đương
sự.
* Kháng cáo:
Ngày 12-02-2026, ông Nguyễn Xuân T2 không đồng ý với quyết định của
bản án sơ thẩm về số tiền tuyên buộc ông T2 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn
Văn T và bà Nguyễn Thị S. Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm theo quy định.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn
phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
-- 4 of 8 --
5
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2 do không có căn cứ
pháp luật và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04-02-
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên toà phúc thẩm:
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm ông
Nguyễn Quang T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Phạm Quốc V1 đã được Tòa án cấp,
tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng đến lần thứ hai
vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố
tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2:
[2.1] Căn cứ “Giấy chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010 do ông
Nguyễn Xuân T2 viết với các nội dung:
Tôi tên là Nguyễn Xuân T2, vợ tên là Võ Thị B, con kế thừa Nguyễn Quang
T3.
Vợ chồng và con nhất trí chuyển nhượng mảnh vườn cũ cho vợ chồng anh
Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S, dài từ đường bê tông đến vườn anh Phạm Kỹ
R 05m. Đông giáp anh Phạm K1, Tây giáp đường bê tông; Nam giáp ông Đinh
D, Bắc giáp vườn còn lại. Ngang dọc theo đường bê tông là 5m; dài đụng vườn
anh Phạm Kỹ .
Với số tiền là 40.000.000 đồng. Vợ chồng anh T và chị S đưa trước là
5.000.000 đồng. Khi xong giấy tờ vợ chồng anh đưa đủ. Nay tôi làm giấy này để
làm chứng từ, để tin tưởng bên chuyển nhượng và bên mua.
“Giấy chuyển nhượng đất” nội dung ghi rõ chuyển nhượng như trên, thoả
thuân diện tích, giá tiền đầy đủ nhưng tại đơn kháng cáo cũng như phiên toà
hôm nay ông Nguyễn Xuân T2 đều cho rằng văn bản này là giấy đặt cọc thì đây
chỉ là lời khai nại, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Căn cứ các bản án dân sự sơ thẩm số 12A/2013/DSST ngày 12-3-
2013 của Toà án nhân dân huyện Núi Thành và bản án dân sự phúc thẩm số
49/2013/DSPT ngày 23-7-2013 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam cùng
Công văn số 437/CNVPĐK ngày 09-10-2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ thì
thấy: Tại thời điểm ông Nguyễn Xuân T2 chuyển nhượng thửa đất theo “Giấy
chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010 nói trên thì ông T2 chưa có đầy đủ
quyền của người sử dụng đất; hình thức văn bản chuyển nhượng cũng không
đảm bảo quy định pháp luật. Ngoài ra, việc chuyển nhượng trên thực tế chưa
hoàn thành, bên bán chưa bàn giao cho bên mua và vào năm 2019 bên bán- gia
đình ông T2 đã xây nhà ở cho đến nay. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử
-- 5 of 8 --
6
“Giấy chuyển nhượng đất ngày 25-7-2010” giữa ông Nguyễn Xuân T2 và ông
Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S vô hiệu là có căn cứ pháp luật theo các Điều
117, 122 Bộ luật dân sự.
[2.3] Về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được thực
hiện theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự, các bên hoàn trả lại cho nhau
những gì đã nhận và bồi thường thiệt hại nếu có. Thửa đất chuyển nhượng hiện
gia đình ông Nguyễn Xuân T2 đang quản lý, sử dụng nên phải hoàn trả lại số
tiền đã nhận của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S.
Căn cứ Biên bản định giá tài sản của Toà án cấp sơ thẩm thực hiện ngày
02-12-2025 thì thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc thôn B, xã T, huyện N,
tỉnh Quảng Nam, theo CSDL là thửa 801, tờ bản đồ số 3, nay là thôn Đ, xã N,
thành phố Đà Nẵng có giá đất ở là 1.760.000 đồng/m2. Hai bên chuyển nhượng
theo đo đạc thực tế hiện nay 117,9m2 tương ứng với giá trị là 207.504.000 đồng.
Giá trị thửa đất này các bên đương sự không có ý kiến gì nên được lấy làm cơ sở
giải quyết vụ án.
Thời điểm chuyển nhượng năm 2010 thì các bên thoả thuận giá chuyển
nhượng 40.000.000 đồng, đến nay giá trị quyền sử dụng đất đã tăng lên nên cần
xem xét lỗi dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu để tính số tiền hoàn trả phù hợp
thực tế, nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch.
Hội đồng xét xử xét mặc dù “Giấy chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010
chỉ có một mình ông Nguyễn Xuân T2 viết và ký tên nhưng bà Võ Thị B có
tham gia thoả thuận vào năm 2018 để tăng giá chuyển nhượng lên 163.000.000
đồng và con của ông T2, bà T3 là ông Nguyễn Quang T3 nhận thêm số tiền
8.000.000 đồng từ ông T cho thấy cả gia đình ông T2 đều biết và tham gia vào
giao dịch này. Theo biên bản hoà giải tại địa phương lập vào ngày 13-8-2018 thể
hiện ông T2 không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho vợ chồng ông T. Đồng
thời, năm 2019 ông T2 còn xây nhà trên thửa đất đã thoả thuận chuyển nhượng
trong khi vẫn đang giữ tiền của vợ chồng ông T. Như vậy, lỗi dẫn đến giao dịch
dân sự vô hiệu thuộc về ông T2.
Năm 2010, ông Nguyễn Xuân T2 đã nhận 13.000.000 đồng trong tổng số
tiền 40.000.000 đồng chuyển nhượng nên nay phải hoàn trả theo tỷ lệ tương ứng
là 69.168.000 đồng trên giá trị thửa đất hiện nay là 207.504.000 đồng như cấp sơ
thẩm quyết định là phù hợp. Ông T2 kháng cáo cho rằng chỉ trả theo mức tiền lãi
là không có căn cứ được chấp nhận.
[2.4] Tại đơn kháng cáo, ông Nguyễn Xuân T2 còn cho rằng việc ông
Nguyễn Văn T khởi kiện đối với “Giấy chuyển nhượng đất” lập ngày 25-7-2010
là đã hết thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, năm 2018 chính ông T2 là người thoả
thuận tăng giá chuyển nhượng đất với ông T, bà S nên đây là thời điểm xác lập
lại thời hiệu khởi kiện. Do vậy, năm 2019 ông T khởi kiện đối với ông T2 là phù
hợp pháp luật. Ngoài ra, ông T2 cũng chính là bị đơn có yêu cầu phản tố trong
vụ án này mà lại trình bày thời hiệu khởi kiện đã hết là mâu thuẫn với chính
mình.
-- 6 of 8 --
7
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễ n Xuân T2 phải chịu do không
được chấp nhận kháng cáo. Tuy nhiên, do thuộ c trường hợp người cao tuổ i
nên ông T2 đ ược miễ n án phí.
[4] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại
phiên tòa phúc thẩm là phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án và quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 148, Điều 293, Khoản 1 Điều 308, các Điều 311, 312, 313 Bộ luật tố
tụng dân sự;
- Khoản 1, 2 Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 131, khoản 4 Điều 237,
Điều 241. , Điều 468 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T2;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04-02-2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối
với ông Nguyễn Xuân T2 về yêu cầu Tòa án tuyên “Giấy chuyển nhượng đất”
ngày 25-7-2010 có hiệu lực pháp luật; buộc ông T2, bà B xử lý tài sản trên đất,
khôi phục lại tình trạng ban đầu và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S theo kết quả Trích
đo hiện trạng sử dụng đất ngày 02-7-2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai đối với diện tích đất là 117,9m2, tại thửa đất số 788, tờ bản đồ số 1, thuộc
thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, theo CSDL là thửa 801, tờ bản đồ số 3,
nay là thôn Đ, xã N, thành phố Đà Nẵng. Ông T, bà S đồng ý trả thêm cho ông
T2, bà B số tiền 150.000.000 đồng;
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Xuân T2 về việc yêu cầu
Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Theo đó, tuyên bố “Giấy chuyển
nhượng đất ngày 25-7-2010” giữa ông Nguyễn Xuân T2 và ông Nguyễn Văn T,
bà Nguyễn Thị S vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Xuân T2 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn T và
bà Nguyễn Thị S số tiền 69.168.000 (sáu mươi chín triệu, một trăm sáu tám
nghìn) đồng.
-- 7 of 8 --
8
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương
ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí: ông Nguyễn Văn T được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004242
ngày 15-5-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam, nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu số tiền 2.000.000
(hai triệu) đồng (ông T đã nộp đủ).
II. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễ n Xuân T2 phải chịu nhưng được
miễn án phí.
III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Thành phố Đà Nẵng;
- THADS Thành phố Đà Nẵng;
- TAND KV5-ĐN;
- Phòng THADS KV5-ĐN;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thị Thanh Mai
-- 8 of 8 --