Mục lục - 3 điều ▼
Điều 219. Bộ luật dân sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Công H:
Chia cho ông Bùi Công H đựơc quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất
gồm:
- Thửa đất số 76, tờ bản đồ 4, diện tích 217,0m2 (trong đó: 40m2 thổ cư và
177m2 đất cây lâu năm) tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận
(nay là thôn N, xã H, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AM 046148 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 14/8/2008 đứng tên hộ
ông Trần Văn Đ, cập nhật sang nhượng tên cho ông Bùi Công H ngày 21/02/2017.
- Thửa đất số 08b, tờ bản đồ khu QH chợ, diện tích 12m2 (đo đạc thực tế)
tọa lạc thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H, tỉnh Lâm Đồng) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 703804 được Ủy ban nhân dân huyện
H cấp ngày 27/01/2003, đứng tên hộ ông Nguyễn Duy K, cập nhật sang nhượng
cho ông Bùi Công H ngày 25/12/2015.
- Thửa đất số 131H, tờ bản đồ số 5, diện tích 245,0m2 (trong đó: 40m2 thổ
cư, 205m2 cây trồng hàng năm) tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh
Bình Thuận (nay là thôn N, xã H, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền
-- 9 of 20 --
10
sử dụng đất số AG 898061 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/11/2006
đứng tên bà Trần Thị L. Theo kết quả đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai khu vực H thì thửa đất số 131H, tờ bản đồ 05 đổi thành tờ bản đồ
số 64, thửa đất số 39, diện tích 433,9m2 trên đất có căn nhà cấp 4c (hiện trạng có
10 phòng trọ).
- Thửa đất số 21, tờ bản đồ đo độc lập, diện tích 8.924,7m2 được giới hạn
từ mốc tọa độ từ 7,8,9,10,11,12,13,14,15 về mốc 7 nằm trong tổng diện tích
12825.5m2 đo đạc thực tế (thửa đất số 105) và thửa đất số 22, tờ bản đồ đo độc
lập, diện tích 7.115m2 đất màu (đo đạc thực tế 10792,8m2) được giới hạn bởi các
mốc từ 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16 về mốc 1 tọa lạc tại thị trấn T,
huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số T 208205 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày
31/12/2000 đứng tên hộ ông Bùi Công H.
(Kèm các mảnh chỉnh lý của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực
H)
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Trần Thị L:
Chia cho bà Trần Thị L đựơc quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất gồm:
- Thửa số 131b, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m2 (trong đó đất thổ cư 60m;
đất màu 120m2, tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay
là thôn N, xã H, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA
195702 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 09/11/2004 đứng tên hộ Bùi Công
H, trên đất có căn nhà cấp 4c. Theo kết quả đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai khu vực H thì thửa đất số 131b, tờ bản đồ 05 đổi thành tờ
bản đồ số 37, diện tích 367,5m2 và thửa đất số 49 diện tích 397,2m2 tờ bản đồ địa
chính số 64.
- Thửa đất số 109, tờ bản đồ 117, diện tích 129,0m2 (trong đó 79m2 thổ cư
và 50m2 hàng năm khác) tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay
là thôn L, xã T, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 715619 do Ủy ban nhân dân
huyện H (cũ) cấp ngày 30/12/2016 đứng tên bà Trần Thị L và ông Bùi Công H,
trên đất có căn nhà cấp 4.
- Thửa đất số 08a, tờ bản đồ khu QH chợ, diện tích 12m2 (đo đạc thực tế)
tọa lạc thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H, tỉnh Lâm Đồng) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 703866 được Ủy ban nhân dân huyện
H cấp ngày 27/01/2003 đứng tên hộ ông Bùi Công H.
- Thửa đất số 23, tờ bản đồ ĐĐL, diện tích 9090 (đo đạc thực tế 8429,7m2)
được giới hạn bởi các mốc tọa độ là (1,2,3,4,5,6,17,18,19,20 về mốc 3) tọa lạc tại
thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số U 803971 được Ủy ban nhân dân huyện H (cũ)
cấp ngày 28/11/2002 đứng tên hộ ông Bùi Công H.
-- 10 of 20 --
11
- Thửa đất số 21, tờ bản đồ đo độc lập, diện tích 3900,8m2 được giới hạn
bởi các mốc tọa độ là 6,7,15,16,17 về mốc 6) nằm trong tổng diện tích 12825,5m2
(đo đạc thực tế) tọa lạc tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H, tỉnh
Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208205 được Ủy ban
nhân dân huyện H cấp ngày 31/12/2000 đứng tên hộ ông Bùi Công H.
(Kèm các mảnh chỉnh lý của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực
H)
3. Buộc bà Trần Thị L phải hoàn lại cho ông Bùi Công H số tiền
168.472.389 đồng (bằng chữ: Một trăm sáu mươi tám triệu năm trăm tám mươi
hai nghìn một trăm ba mươi chín đồng) đây là giá trị chênh lệch tài sản mà bà
Trần Thị L được nhận.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357. và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị L về yêu cầu
chia ½ số tiền bán đất đối với tài sản là thửa đất số 0,10, lô 35, mua bằng giấy tay,
diện tích 70m2, tọa lạc tại khu dân cư V, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
(cũ), đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lô đất này đã chuyển nhượng với
số tiền 1.250.000.000 đồng.
5. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia diện tích 2662,5m2, vị trí tọa lạc tại
xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng), tình trạng đất chưa
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
6. Bà Trần Thị L hiện đang giữ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nên buộc bà Trần Thị L phải giao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Bùi Công H gồm: Thửa đất số 76 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM
046148 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 14/8/2008 đứng tên hộ ông Trần
Văn Đ, cập nhật sang nhượng tên cho ông Bùi Công H ngày 21/02/2017; Thửa
đất số 08b theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 703804 được Ủy ban
nhân dân huyện H cấp ngày 27/01/2003, đứng tên hộ ông Nguyễn Duy K, cập
nhật sang nhượng cho ông Bùi Công H ngày 25/12/2015; Thửa đất số 131H, theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG898061 được Ủy ban nhân dân huyện
H cấp ngày 20/11/2006 đứng tên bà Trần Thị L; Thửa đất số 21 và thửa đất số 22
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208205 được Ủy ban nhân dân
huyện H cấp ngày 31/12/2000 đứng tên hộ ông Bùi Công H.
Ông Bùi Công H và bà Trần Thị L có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục đăng ký tách thửa, biến động về đất đai
theo đúng quy định của pháp luật và nộp nghĩa vụ tài chính theo quy định của
pháp luật. Ngay sau khi ông H làm các thủ tục tách thửa đất số 21 xong thì phải
trả lại cho bà Trần Thị L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208205 được
-- 11 of 20 --
12
Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/12/2000 đứng tên hộ ông Bùi Công H để
bà Trần Thị L thực hiện thủ tục đăng ký biến động chủ sử dụng theo quy định.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của
đương sự, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi
hành án theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/12/2025 bị đơn bà Trần Thị L có đơn kháng
cáo toàn bộ bản án yêu cầu xem xét bản án sơ thẩm theo hướng công bằng, bảo vệ
chính đáng lợi ích cho bà.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn xác định yêu cầu kháng cáo được nhận hiện vật là các thửa đất số
76, 08b, 131h, 21(phần chia cho ông H) và 109 (cấp sơ thẩm đã chia cho bà); yêu
cầu nguyên đơn cung cấp giấy tờ chứng minh đã bán thửa số 0,09 lô 35 giá
800.000.000 đồng; yêu cầu chia ½ số tiền lô số 035, diện tích 70m2 ông H bán giá
1.250.000.000 đồng; yêu cầu chia ½ diện tích đất 2662,5m2 chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu chia ½ số tiền 1.150.000.000 đồng ông H
bán cho bác sĩ H2.
- Nguyên đơn cho rằng tại cấp sơ thẩm bị đơn đã được nguyên đơn cho lựa
chọn nhận hiện vật, nay lại thay đổi thì nguyên đơn không đồng ý và yêu cầu giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa
án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật.
Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời
khai của các đương sự xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là đảm bảo
quyền lợi cho các đương sự, có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tạiphiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội
đồng xét xử nhận thấy:
[1] Tại phiên toà có mặt ông Bùi Công H, bà Trần Thị L và ông Hồ Thanh
T1; ông Bùi Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Công
H. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vụ án theo quy định.
-- 12 of 20 --
13
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3] Về chia tài sản chung bằng hiện vật (chia đất):
[3.1] Đối với bà Trần Thị L thì tại Tòa án sơ thẩm bà L yêu cầu được chia
tài sản và nhận hiện vật gồm:
- Thửa số 131b, diện tích 180m2 (trong đó đất thổ cư 60m2; đất màu 120m2
(nay đo đạc diện tích 367,5m2) và Thửa đất số 49 diện tích 397,2m2 trên đất có
căn nhà cấp 4c, 01 căn nhà mái thái (trị giá 740.046.920đ). Tổng giá trị nhà và đất
là 3.210.000.000 đồng.
- Thửa đất số 109, tờ bản đồ 117, diện tích 129,0m2 (trong đó 79m2 đất thổ
cư và 50m2 đất hàng năm khác), trên đất có căn nhà cấp 4. Tổng giá trị nhà và đất
là: 979.100.000 đồng.
- Thửa đất số 08a, tờ bản đồ khu QH chợ, diện tích 12m2 (đo đạc thực tế).
Trị giá: 371.000.000 đồng.
- Thửa đất số 23, tờ bản đồ ĐĐL, diện tích 9.0902 (loại đất màu). Nay là
thửa đất số 23 đổi thành thửa số 104, diện tích 8429,7m2 (đo đạc thực tế). Trị giá:
1.306.603.500 đồng.
- Diện tích 3900,8m2 (nằm trong tổng diện tích đo đạc thực tế là
12.825,5m2) của thửa đất số 21. Trị giá: 604.624.000 đồng.
Tổng giá trị hiện vật bà L được nhận là: 6.471.327.500 đồng.
[3.2] Đối với ông H yêu cầu được chia tài sản và nhận hiện vật gồm:
- Thửa đất số 76, tờ bản đồ 4, diện tích 217,0m2 (trong đó có 40m2 đất thổ
cư và 177m2 đất cây lâu năm). Trị giá: 1.035.220.000 đồng.
- Thửa đất số 08b, tờ bản đồ khu QH chợ, diện tích 12m2 (đo thực tế). Trị
giá: 238.000.000 đồng.
- Thửa đất số 131H, diện tích 245,0m2 (trong đó có 40m2 đất thổ cư, 205m2
đất hàng năm). Nay là thửa đất số 39, diện tích 433,9m2 trên đất có căn nhà cấp
4c (hiện trạng có 10 phòng trọ). Tổng trị giá nhà và đất là: 455.448.588 đồng.
- Diện tích 8.924,7m2 thuộc một phần thửa đất số 21 diện tích 13.900m2
(đất màu) nay là thửa số 105, diện tích 12.825,5m2 và thửa đất số 22, diện tích
7.115m2 (đất màu) nay là thửa đất số 370, diện tích 10.792,8m2. Tổng trị giá:
3.056.212.000 đồng.
Tổng giá trị hiện vật ông H được nhận là 4.784.880.588 đồng.
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông H đã ưu tiên cho
bà L được lựa chọn trước những tài sản bằng hiện vật mà bà L muốn nhận. Dựa
trên nhu cầu của hai bên đương sự Tòa án sơ thẩm đã chia cho ông H, bà L đúng
với diện tích đất, thửa đất mà hai bên muốn nhận. Như vậy, phần chia hiện vật
như trên đã đảm bảo quyền lợi cho bà L. Nay bà L kháng cáo yêu cầu được nhận
thửa đất 76, 08b, 131h và một phần thửa đất 21 (phần cấp sơ thẩm chia cho ông
H) là không có căn cứ chấp nhận.
-- 13 of 20 --
14
[5] Về yêu cầu chia tài sản bằng giá trị:
Bà L yêu cầu chia cho bà ½ giá trị các tài sản gồm: Lô đất số 035, diện tích
70m2, ông H đã chuyển nhượng với số tiền 1.250.000.000 đồng; Lô đất số 0.09,
mua bằng giấy tay, diện tích 70m2, ông H đã chuyển nhượng với số tiền
800.000.000 đồng và số tiền 549.502.134 đồng (ông H đã nhận tiền bồi thường,
hỗ trợ). Tổng giá trị: 2.599.502.134 đồng/2 = 1.299.751.067 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm ông H thừa nhận giá trị các
tài sản nêu trên là tài sản chung của vợ chồng nhưng ông H cho rằng ông đã sử
dụng vào mục đích nuôi con ăn học đại học, sửa chữa nhà trọ, xây nhà mái thái
và dùng vào việc sinh hoạt gia đình, trả lãi Ngân hàng nên không đồng ý chia giá
trị các tài sản này. Xét lời khai của ông H nhận thấy:
Đối với tiền bồi thường, hỗ trợ 549.502.134 đồng ông H đã nhận vào năm
2023 (khi vợ chồng đã ly thân, trước khi ly hôn ông H không đưa tiền cho bà L,
không hỏi ý kiến bà L đã tự ý chi tiêu hết số tiền này nên Tòa án cấp sơ thẩm đã
chấp nhận yêu cầu của bà L chia cho bà L ½ số tiền là 274.751.067 đồng là có căn
cứ, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L.
Đối với số tiền 800.000.000 đồng là tiền ông H đã sang nhượng thửa đất
0,09 lô 35 tại phường P, thành phố P (cũ) diện tích 70m2. Thửa đất này ông H đã
sang nhượng khi vợ chồng sống ly thân, mỗi người sống một nơi, độc lập về kinh
tế. Tuy nhiên, khi sang nhượng ông H không hỏi ý kiến bà L, không đưa tiền cho
bà L. Ông H cho rằng bán thửa đất này để trả nợ tiền xây nhà nhưng ông không
cung cấp tài liệu, chứng minh cho ý kiến của ông là có căn cứ. Do đó, Tòa án sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu của bà L chia cho bà L ½ số tiền là 400.000.000 đồng là
đúng quy định của pháp luật, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L.
Đối với thửa đất số 0,10 lô 35 ông H sang nhượng với giá 1.250.000.000
đồng vào năm 2020, lúc này vợ chồng đã mâu thuẫn nhưng chưa ly hôn và lúc
này ông H mới xây nhà mái thái xong và còn nợ các cá nhân bên ngoài (lúc ông
H xây nhà bà L biết nhưng không ký giấy tờ để ông H vay ngân hàng). Mặt khác,
bà L cũng thừa nhận việc chi tiêu trong gia đình, con cái ăn học, xây nhà là do
ông H tự lo liệu nên việc ông H khai số tiền này đã dùng để trả nợ làm nhà, lo cho
gia đình, nuôi các con ăn học là có cơ sở (nay căn nhà mái thái trị giá 740.046.920
đồng cũng đã được đưa vào chia tài sản chung). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không
chấp nhận yêu cầu chia ½ số tiền này cho bà L là phù hợp.
[6] Như vậy, bà L được chia tài sản chung bằng hiện vật có tổng giá trị là
6.471.327.500 đồng và được chia tài sản chung bằng giá trị là 674.751.067 đồng
(274.751.067đ tiền đền bù + 400.000.000đ tiền chuyển nhượng đất). Tổng cộng
là: 7.146.078.567 đồng.
Ông H được chia tài sản bằng hiện vật có tổng giá trị là 4.784.880.588 đồng
và được chia tài sản chung bằng giá trị là 674.751.067 đồng (274.751.067đ tiền
đền bù + 400.000.000đ tiền chuyển nhượng đất). Tổng cộng là 5.459.631.655
đồng.
-- 14 of 20 --
15
Xác định tổng giá trị tài sản chung của ông H và bà L là 12.605.710.222
đồng. Chia giá trị ông H và bà L mỗi người được nhận 6.302.855.111 đồng.
Bà L được nhận hiện vật và giá trị là 7.146.078.567 đồng là nhiều hơn số
tiền bà được chia (6.302.855.111 đồng). Do đó, bà phải hoàn trả cho ông H
843.223.456 đồng (7.146.078.567đ - 6.302.855.111đ). Tuy nhiên, được trừ đi số
tiền 674.751.067 đồng ông H phải hoàn trả cho bà L thì bà L còn phải trả cho ông
H 168.472.389 đồng.
[7] Đối với diện tích đất 2.662,5m2 tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình
Thuận (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng) chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L yêu cầu chia đối với diện tích đất này.
Tuy nhiên, xét thấy tại cấp sơ thẩm bà L xin rút yêu cầu này, ông H cũng không
yêu cầu chia. Do đó, Tòa án sơ thẩm đình chỉ xét xử là đúng quy định tại khoản 2
Điều 357. và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
[5] Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị L về yêu cầu
chia ½ số tiền bán đất đối với tài sản là thửa đất số 0,10, lô 35, mua bằng giấy tay,
diện tích 70m2, tọa lạc tại khu dân cư V, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
(cũ), đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lô đất này đã chuyển nhượng với
số tiền 1.250.000.000 đồng.
[6] Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia diện tích 2662,5m2, vị trí tọa lạc
tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng), tình trạng đất
chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[7] Bà Trần Thị L hiện đang giữ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nên buộc bà Trần Thị L phải giao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Bùi Công H gồm: Thửa đất số 76 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM
046148 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 14/8/2008 đứng tên hộ ông Trần
Văn Đ, cập nhật sang nhượng tên cho ông Bùi Công H ngày 21/02/2017; Thửa
đất số 08b theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 703804 được Ủy ban
nhân dân huyện H cấp ngày 27/01/2003, đứng tên hộ ông Nguyễn Duy K, cập
nhật sang nhượng cho ông Bùi Công H ngày 25/12/2015; Thửa đất số 131H, theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG898061 được Ủy ban nhân dân huyện
H cấp ngày 20/11/2006 đứng tên bà Trần Thị L; Thửa đất số 21 và thửa đất số 22
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208205 được Ủy ban nhân dân
huyện H cấp ngày 31/12/2000 đứng tên hộ ông Bùi Công H.
Ông Bùi Công H và bà Trần Thị L có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục đăng ký tách thửa, biến động về đất đai
theo đúng quy định của pháp luật và nộp nghĩa vụ tài chính theo quy định của
pháp luật. Ngay sau khi ông H làm các thủ tục tách thửa đất số 21 xong thì phải
trả lại cho bà Trần Thị L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 08205 được
-- 18 of 20 --
19
Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/12/2000 đứng tên hộ ông Bùi Công H để
bà Trần Thị L thực hiện thủ tục đăng ký biến động chủ sử dụng theo quy định.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Bùi Công H phải chịu 114.302.855.000 đồng (làm tròn 114.303.000
đồng) (Bằng chữ: Một trăm mười bốn triệu ba trăm lẻ ba nghìn đồng) án phí dân
sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 10.500.000 đồng (bằng chữ: Mười triệu
năm trăm nghìn đồng) ông H đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí theo biên lai thu số
0000369 ngày 12/10/2021 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 (cũ là Chi
cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam). Ông Bùi Công H còn phải nộp
số tiền 103.803.000 đồng (Một trăm linh ba triệu tám trăm linh ba nghìn đồng).
- Bà Trần Thị L phải chịu 114.302.855.000 đồng (làm tròn 114.303.000
đồng) (Bằng chữ: Một trăm mười bốn triệu ba trăm linh ba nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 6.250.000 đồng L đã nộp theo biên lai
thu số 0013297 ngày 12/4/2023 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 (cũ là
Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam). Bà Trần Thị L còn phải nộp
số tiền 108.053.000 đồng (Một trăm linh tám triệu không trăm năm mươi ba nghìn
đồng).
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án, bị đơn bà Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0002352 ngày 03/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Bà L đã nộp đủ án phí.
[10] Các quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
43/2025/HNGĐ-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11
- Lâm Đồng không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[11] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
(18/5/2026).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thị
hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo
quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung
năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
-- 19 of 20 --
20
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 11 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS KV 11- Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Phong Lan
-- 20 of 20 --