CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc28/2026/QĐST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Bà Trần Thị L và bà Nguyễn Thị Kim T là hàng xóm có quen biết, chơi với
nhau. Từ khoảng năm 2021 đến nay, để hỗ trợ cho bà T, bà L cho bà T vay tiền nhiều
lần, với tổng số tiền là 213 triệu đồng. Thỏa thuận vay tiền giữa hai bên bằng miệng,
không lãi, không thỏa thuận về thời gian trả nợ. Khi nào cần tiền, bà L đòi thì bà T
có trách nhiệm trả nợ cho bà L. Khoảng tháng 6 năm 2025, bà L yêu cầu bà T trả tiền
nhưng bà T không trả. Vì vậy, bà L yêu cầu bà T ký Giấy biên nhận ngày 27/7/2025
xác nhận số tiền nợ với bà L là 213 triệu đồng. Sau đó, con gái bà T là chị Đặng Thị
Thu H trả nợ thay bà T nhiều lần cho bà L, bằng hình thức chuyển khoản, với tổng
số tiền là 13 triệu đồng. Bà T còn nợ bà L 200 triệu đồng. Nay, bà L yêu cầu bà T trả
cho bà L số tiền nợ gốc là 200 triệu đồng. Bà L không yêu cầu trả lãi chậm thanh
toán.
Trường hợp, bà T có tiền trả cho bà L 150 triệu đồng thì bà L đồng ý miễn cho
bà T 50 triệu đồng.
Số tiền bà L cho bà T vay là tiền riêng của bà L, không liên quan đến chồng
bà L là ông Đào Anh H1 (sinh năm 1951, cùng ở địa chỉ số B tái định cư Nút giao
thông C, phường H, thành phố Hải Phòng với bà L).
Tại Bản tự khai ngày 04/3/2026, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Bà T và bà Trần Thị L là hàng xóm, quen biết và chơi với nhau. Bà T có vay
bà L nhiều lần với tổng số tiền là 213 triệu đồng. Bà T đã ký xác nhận số nợ trên với
bà L như Giấy biên nhận ngày 27/7/2025, bà L đã giao nộp cho Tòa án là đúng.
Con gái bà T là chị Đặng Thị Thu H đã trả cho bà L thay bà T một số tiền, cụ
thể là bao nhiêu, trả vào nợ gốc hay nợ lãi, bà T sẽ hỏi lại chị H và sẽ trình bày với
Tòa án sau.
Bà T vay của bà L số tiền nêu trên có thỏa thuận về lãi, bằng miệng. Cụ thể
mức lãi suất các bên thỏa thuận là bao nhiêu và bà T đã trả cho bà L bao nhiêu tiền,
bà T sẽ cung cấp cho Tòa án sau.
Khi bà T vay tiền bà L thì hai bên không thỏa thuận về thời gian cụ thể bà T
phải trả tiền bà L. Khi nào bà L đòi thì bà T phải trả cho bà L. Khoảng tháng 6 năm
2025, bà L đòi tiền bà T nhưng bà T chưa trả bà L nên bà L yêu cầu ký Giấy xác nhận
nợ ngày 27/7/2025. Trước đây không có giấy tờ vay tiền chỉ vay bằng miệng. Bà T
có trách nhiệm trả cho bà L khoản nợ trên. Vì hoàn cảnh khó khăn nên bà T đề nghị
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.