Bản án20Ban hành: 05/05/2026Còn hiệu lực
Bản án số 20 ngày 05/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T,
huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã T, tỉnh Lạng Sơn) vào ngày 05/4/2023. Như
vậy, quan hệ hôn nhân của chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ là hợp pháp.
Vợ chồng đã có mâu thuẫn từ khi mới chung sống do bất đồng quan điểm sống,
không quan tâm, yêu thương, chăm sóc tới nhau. Từ năm 2024 đến nay vợ
chồng mâu thuẫn trầm trọng hơn, cả hai không còn tiếng nói chung, đã sống ly
thân, không còn yêu thương, quan tâm gì tới nhau, không có hành động gì hàn
gắn tình cảm. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Hoàng Thị T
và anh Hoàng Văn Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời
sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị T là có
căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ có 01 con
chung là cháu Hoàng Thiên P, sinh ngày 08/5/2023. Từ khi sinh ra đến nay cháu
Hoàng Thiên P sống với bố và ông bà nội. Xét thấy anh Hoàng Văn Đ có thông
tin với bố đẻ yêu cầu được nuôi con, có chỗ ở, có thu nhập ổn định, có bố mẹ đẻ
cam đoan hỗ trợ trong việc nuôi con nên có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc
con chung, chị Hoàng Thị T cũng nhất trí con chung để cho bố nuôi dưỡng, giáo
dục. Để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về mọi mặt cho trẻ em, tiếp tục giao cháu
Hoàng Thiên P, sinh ngày 08/5/2023 cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị T chưa
phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Hoàng Văn Đ chưa yêu cầu. Chị Hoàng
Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị
Hoàng Thị T thực hiện quyền này.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị T trình bày trong thời
gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T là người dân tộc thiểu số
(Nùng), thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp toàn bộ tiền án
phí ly hôn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Toà án.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn
là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-- 5 of 7 --
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia
đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh
Hoàng Văn Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2023, đăng ký ngày 05/4/2023 tại
Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã T, tỉnh Lạng Sơn).
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thiên P, sinh ngày
08/5/2023 cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục
cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con
chung do anh Hoàng Văn Đ chưa yêu cầu. Chị Hoàng Thị T có quyền, nghĩa vụ
thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Hoàng Thị T thực hiện quyền
này.
3. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T được miễn nộp toàn bộ tiền án
phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.
Văn bản liên quan
Nguồn: mạng tri thức VietLex (liên kết trích tự động từ văn bản chính thống)