Điều 58. ; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Vũ
Văn T từ 24 tháng đến 27 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48
tháng đến 54 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo cho chính quyền
địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào các điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c
khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy công cụ, phương
tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng gồm:01 thanh kiếm kim loại màu trắng và
01 ná cao su.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về
tội “Gây rối trật tự công cộng” là đúng người, đúng tội, không bị oan sai gì; trình
bày sự việc đuổi, đánh nhau gây mất trật tự công cộng đúng như bản cáo trạng đã
nêu. Các bị cáo đều đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu
-- 7 of 15 --
8
vực 2 - NB, nói lời sau cùng các bị cáo đều đề nghị được hưởng mức hình phạt nhẹ
nhất.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án Đinh Thị Th, Bùi Văn T, Phạm Ngọc D là chủ sở hữu các xe mô tô bị tạm
giữ trong quá trình điều tra đã được trả lại tài sản và không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm
sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và
tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến
hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của
các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ 30 ngày 17/7/2025, tại địa bàn
phường TS, tỉnh NB, nhóm của Mai Trung H gồm nhiều đối tượng đã tụ tập, rủ
nhau đi xe mô tô trên đường giao thông công cộng gây sự, thể hiện bản thân, nếu
gặp người khác phản kháng thì sẽ đánh hội đồng. Sau đó, các đối tượng mang theo
kiếm, gậy baton, điều khiển nhiều xe mô tô di chuyển trên các tuyến đường. Khi
gặp nhóm của Võ Duy K, các đối tượng đã quay đầu xe, đuổi theo, chặn đầu xe, đe
dọa, chửi bới và sử dụng hung khí uy hiếp. Không dừng lại ở đó, các đối tượng tiếp
tục truy đuổi nhiều lần, sử dụng kiếm đe dọa, ném đá, bê tông, gây mất trật tự
nghiêm trọng trên tuyến đường công cộng, đồng thời tập trung tại khu vực nhà hàng
VC để tiếp tục đe dọa, thách thức đánh nhau, làm náo loạn khu vực kinh doanh, ảnh
hưởng xấu đến an ninh trật tự. Bị cáo Võ Duy K đã rủ Đỗ Thành Đ quay lại đuổi
đánh, trực tiếp ném cục bê tông, chặn xe và có hành vi uy hiếp lại nhóm của H, góp
phần làm vụ việc trở nên phức tạp, mất kiểm soát. Bị cáo Vũ Văn T có hành vi nhặt
đá ném về phía nhóm của Mai Trung H góp phần làm gia tăng tình trạng mất trật
tự công cộng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến
trật tự công cộng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự tại địa phương.
[3] Điều 318 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Gây rối trật tự công cộng”
như sau:
“Điều 318: Tội gây rối trật tự công cộng
-- 8 of 15 --
9
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật
tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc
phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02
năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách
...”.
Hành vi dùng xe mô tô phóng nhanh, dùng vũ khí thô sơ (kiếm), hung khí
đuổi đánh nhau trên đường giao thông công cộng nêu trên của các bị cáo đã gây
mất trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, đủ
yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, các bị cáo sử dụng xe mô tô, đá,
bê tông, kiếm, nỏ, gậy baton để phạm tội nên thuộc trường hợp “Dùng vũ khí, hung
khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 2 - NB truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Mai Trung H, Võ Duy K
và Vũ Văn T đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Vũ Văn T phạm tội lần đầu, tham gia thực hiện hành vi ném 01 hòn
đá về phía của nhóm Mai Trung H với mục đích cản trở nhóm của H truy đuổi
nhóm của Võ Duy K, hành vi đơn giản, có tính chất bộc phát, không gây thiệt hại
về sức khỏe và tài sản, có vai trò thứ yếu, không đáng kể nên được áp dụng thêm
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[5] Về hình phạt:
Xét tính chất hành vi phạm tội, vai trò, vị trí trong vụ án, hậu quả của hành
vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận
thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, vị trí, vai trò và trách nhiệm
hình sự của các bị cáo được xác định như sau:
Bị cáo Mai Trung H tham gia phạm tội ngay từ đầu, cùng một số đối tượng
rủ rê nhau đi trên đường chủ động gây sự, đánh người nếu bị phản kháng, bị cáo
chuẩn bị phương tiện là xe mô tô của mẹ, chở Nguyễn Trí Th (người mang kiếm),
-- 9 of 15 --
10
điều khiển xe đuổi theo đe dọa nhóm của Võ Duy K, là người chở đòng phạm gây
rối tại khu vực nhà hàng VC, bị cáo là người thực hành tích cực có vai trò cao nhất
các bị cáo, bản thân có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên phải chịu mức
hình phạt cao nhất trong vụ án.
Bị cáo Võ Duy K là người thực hành, ban đầu bị đe dọa, không phản kháng
nhưng sau đó vì muốn trả thù nhóm của Mai Trung H nên chủ động nói: “bọn nó
vừa định chém anh” nhằm kích động Đ đi trả đũa nhóm của Mai Trung H, K ngồi
sau xe của Đ nhặt cục bê tông ném vào nhóm H, chặn đầu xe, uy hiếp, làm cho vụ
việc trở nên phức tạp, mất kiểm soát, bị cáo có vai trò chỉ đứng sau Mai Trung H,
bản thân có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên phải chịu mức hình phạt
cao thứ hai trong vụ án.
Vũ Văn T là người thực hành không tham gia từ đầu, có vai trò thấp nhất
trong vụ án, ban đầu ngồi sau xe, không tham gia nhưng đã chứng kiến hành vi của
đồng phạm, sau đó chủ động xuống xe không tham gia. Trong lúc đứng ven đường,
nhìn thấy nhóm của Mai Trung H đuổi theo nhóm của Võ Duy K, T đã nhặt hòn đá
ve đường ném về phía nhóm của H đang điều khiển xe trên đường nhưng không
trúng ai nhằm cản trở nhóm của H đuổi theo K, Đ, làm cho nhóm của H tiếp tục có
hành vi gây rối, hành vi của bị cáo làm gia tăng tình trạng mất trật tự công cộng mà
các bị cáo khác đang gây ra, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1