cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nhưng mức hình phạt đối với các bị cáo
là phù hợp. Riêng bị cáo C sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp đủ số tiền 75
triệu đồng, đã từng bị tạm giam, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của bị cáo C về việc giảm hình phạt từ 06 tháng – 09 tháng tù, không chấp nhận
kháng cáo của các bị cáo còn lại. Trong phần tranh luận đối đáp, đại diện Viện
công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ mới mà các bị cáo đã nêu, để chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của tất cả các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá Nhựt T2 trình bày: Bản án sơ thẩm
đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có nộp bằng khen của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh và Ban chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh A, nên đề nghị áp dụng
thêm điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo phạm tội lần đầu là tình
tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Anh trai ruột
của bị cáo có tham gia kháng chiến và là thương binh hạng ¼ là tình tiết giảm
nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Trong vụ án này vai trò bị cáo là thứ
yếu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên
và bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật
hình sự.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thành T3 trình bày: Bị cáo T3 là người
duy nhất trong 18 bị cáo không có động cơ vụ lợi, số tiền bị cáo nhận từ 04 học
viên thì bị cáo đã hoàn trả lại số tiền cho những người này tại cổng trường thi.
Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo
tình tiết quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Theo quy định thì
bị cáo T3 được áp dụng điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không thể
là phạm tội nhiều lần và đủ điều kiện được hưởng án treo. Theo xác nhận của
chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình thì hiện nay, bị cáo đang nuôi mẹ
già 80 tuổi bị bệnh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, r, s khoản
1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự và các Nghị quyết hướng dẫn cho bị cáo
được hưởng án treo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phi H1 trình bày: Bản án sơ thẩm đã
áp dụng điểm r, v, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm
bị cáo có cung cấp các tài liệu thể hiện gia đình có công cách mạng, đơn xin
-- 11 of 20 --
12
giảm hình phạt của Linh mục và giáo dân thể hiện bị cáo có tham gia công tác
thiện nguyện, xác nhận của công an xã N về việc bị cáo chấp hành pháp luật nơi
cư trú, bị cáo có nộp sổ tiết kiệm với số tiền 50.000.000 đồng để đảm bảo việc
thi hành án nếu trong trường hợp bị phạt tiền, xin Hội đồng xét xử áp dụng thêm
điểm x khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng
án treo hoặc phạt tiền, để bị cáo có cơ hội chăm sóc con cái, trong đó có một trẻ
là bị cáo đem về nuôi đến hiện tại đứa trẻ vẫn không biết là con nuôi.
Bị cáo Trần Thanh H trình bày: Bị cáo nộp hồ sơ cho trung tâm từ năm
2017, đến năm 2019 thì trung tâm mới có hành vi vi phạm. Bị cáo đã chuẩn bị
số tiết kiệm để đảm bảo cho việc thi hành án nếu trong trường hợp bị phạt tiền.
Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm hình phạt, hưởng án treo
hoặc phạt tiền.
Các bị cáo Trần Thị Kim C, Nguyễn T1, Nguyễn Thị Cẩm G, Nguyễn
Văn B giữ nguyên nội dung đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ mới mà các bị cáo đã nộp
tại cấp phúc thẩm. Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn T1, Nguyễn Văn B trình bày
thêm về việc các bị cáo đã có chuẩn bị sổ tiết kiệm để đảm bảo cho việc thi hành
án nếu trong trường hợp bị phạt tiền.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về Tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan tiến
hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,
các luật sư bào chữa đã thực đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Do vậy, các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Trên cơ sở kết quả điều tra và đề nghị truy tố xét xử của cơ quan tiến
hành tố tụng cấp sơ thẩm (nêu tại phần nội dung vụ án) đã có cơ sở xác định:
Từ năm 2019 đến năm 2023, tại Trung tâm D2 thuộc Ấp B, xã H, thành
phố T, tỉnh Long An, Đào Đức H10 là Giám đốc trung tâm đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn được giao, cấp chứng chỉ không qua đào tạo với giá 1.500.000 đồng
đến 1.700.000 đồng một chứng chỉ. H10 phân công cho nhân viên trong Trung
tâm gồm Phạm Xuân H11 là Tổ trưởng Tổ điều khiển phương tiện thủy nội địa,
Hoàng Tiến V1 là Trưởng phòng Đào tạo, Mai Hoài T10 là Phó trưởng phòng
Đào tạo, lập khống hồ sơ học, hồ sơ kiểm tra để cấp chứng chỉ sơ cấp nghề
không đúng quy định; hợp thức hồ sơ thi giấy chứng nhận khả năng chuyên môn
thuyền trưởng hạng 3 và xét cấp chứng chỉ chuyên môn khác không đúng quy
định. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, H11 được H10 trả tổng số tiền là
81.000.000 đồng; V1 được trả 214.000.000 đồng; T10 được trả 22.000.000
đồng.
-- 12 of 20 --
13
Đào Đức H10 cùng với Phạm Xuân H11, Hoàng Tiến V1 và Mai Hoài
T10 đã hợp thức hồ sơ, cấp khống 3.621 chứng chỉ sơ cấp nghề thuyền trưởng,
máy trưởng, trong đó có 2.776 chứng chỉ được sử dụng làm hồ sơ thi giấy chứng
nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn, riêng 845 chứng chỉ đã tiến
hành các biện pháp xác minh nhưng không xác định được mục đích sử dụng.
Phạm Xuân H11 còn đặt mua 03 giấy khám sức khỏe giả từ bị cáo Trần
Thị Kim C với giá từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng/giấy, khóa thi này bị đình
chỉ do phát hiện có sai phạm nên H11 đã trả lại đủ tiền cho bị cáo H và H12,
chưa đưa tiền cho bị cáo C.
Các bị cáo nhận hồ sơ và tiền của những người có nhu cầu về chứng chỉ
sơ cấp nghề để được hợp thức hóa hồ sơ thi chứng nhận khả năng chuyên môn
thuyền trưởng, máy trưởng hạng 3 và liên hệ với Đào Đức H10 để được cấp
chứng chỉ giả nhằm mục đích sử dụng hợp thức hồ sơ thi giấy chứng nhận khả
năng chuyên môn, từ đó thu lợi bất chính, gồm: Trần Thanh L hưởng lợi
250.000.000 đồng, Trần Thị Kim C hưởng lợi 100.000.000 đồng, Trần Thị Hồng
X hưởng lợi 50.000.000 đồng, Nguyễn Văn H12 hưởng lợi 70.000.000 đồng,
Trần Thanh H hưởng lợi 57.000.000 đồng. Riêng các bị cáo sử dụng chứng chỉ
giả và đặt làm giấy khám sức khỏe giả để hợp thức hồ sơ cho người thi từ 02
giấy giả trở lên và thu lợi từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, gồm:
Nguyễn T1 đã sử dụng 04 chứng chỉ giả và thu lợi 49.000.000 đồng; Huỳnh Văn
C2 và Trương Thanh T11 đã sử dụng 09 chứng chỉ giả và 05 giấy khám sức
khỏe giả, thu lợi 15.000.000 đồng, trong đó, C2 cho Tín 1.000.000 đồng; Phùng
Văn T12 sử dụng 200 chứng chỉ giả và hưởng lợi 15.000.000 đồng. Các bị cáo
sử dụng từ 02 chứng chỉ giả trở lên gồm: Nguyễn Phi H1 sử dụng 05 chứng chỉ
giả và hưởng lợi 9.400.000 đồng; Nguyễn Thị Cẩm G sử dụng 91 chứng chỉ giả
và hưởng lợi 8.500.000 đồng; Nguyễn Bá Nhựt T2 sử dụng 28 chứng chỉ giả và
hưởng lợi 5.600.000 đồng; Ngô Thành T3 sử dụng 04 chứng chỉ nghề giả hợp
thức hồ sơ cho người thi; Nguyễn Văn B sử dụng 02 chứng chỉ nghề giả và
hưởng lợi 1.600.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm và rất nguy
hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức được việc cấp chứng chỉ sơ cấp nghề
khống không thông qua đào tạo, kiểm tra để nộp hồ sơ dự thi thuyền trưởng,
máy trưởng hạng 3 là việc làm vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích vụ lợi và
động cơ mục đích khác các bị cáo đã móc nối với nhau trực tiếp thông qua H10
hoặc qua các trung gian để cấp khống chứng chỉ đào tạo sơ cấp nghề nhiều lần,
thời gian dài để thực hiện việc nộp các chứng chỉ khống này bổ túc vào hồ sơ đủ
điều kiện thi nâng hạng thuyền trưởng, máy trưởng. Hành vi của các bị cáo đã
làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của nhà nước trong việc quản lý và
cấp chứng chỉ nghề theo quy định; ảnh hưởng đến hoạt động bình thường trong
việc quản lý hồ sơ thi nâng hạng thuyền trưởng, máy trưởng; ảnh hưởng đến
hoạt động bình thường của các tổ chức khám chữa bệnh trong việc xác định sức
khỏe; mục đích giúp các đối tượng bỏ tiền ra để có chứng chỉ mà không đi học,
không qua đào tạo nghề.
-- 13 of 20 --
14
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trần Thị
Kim C, Trần Thanh H, Nguyễn T1, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Thị Cẩm G,
Nguyễn Bá Nhựt T2, Ngô Thành T3, Nguyễn Văn B phạm tội “Sử dụng tài liệu
giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Khi xem xét quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh
giá vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, áp dụng các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và nhận định các bị cáo đều có 02 tình tiết
giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng
khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo
Trần Thị Kim C, Trần Thanh H, Nguyễn T1, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Thị Cẩm
G, Nguyễn Bá Nhựt T2, Ngô Thành T3, Nguyễn Văn B với mức án đã tuyên xử
là phù hợp.
Tuy vậy, Hội đồng xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ
thẩm áp dụng điểm r “người phạm tội tự thú” khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
đối với việc: Trong quá trình điều tra về hành vi phạm tội của các bị cáo (hành
vi đã bị phát hiện đang xử lý) thì các bị cáo đã tự nguyện khai ra các các lần
phạm tội khác có cùng hành vi với hành vi bị khởi tố là không đúng. Bởi, theo
quy định tại khoản 16 Điều 2
Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: ““Người phạm tội
tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp
người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của
mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện”. Việc các bị cáo tự
khai báo các lần thực hiện hành vi phạm tội khác là tình tiết giảm nhẹ thuộc
trường hợp người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong
việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án được quy định
tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản
án sơ thẩm phần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51
thay thế cho việc áp dụng điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho tất cả các
bị cáo có kháng cáo.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo:
[3.1] Đối với bị cáo Trần Thị Kim C: Từ những hành vi các bị cáo đã
thực hiện và trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ, Bản án sơ thẩm đã căn cứ
các điểm c, khoản 3, Điều 341; r (cấp phúc thẩm xác định là điểm t) và s, khoản
1 và khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 và Điều 54 Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim C 02 năm tù
là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì lý do:
Sau khi bị tạm giam 11 tháng 28 ngày thì đã bị chồng ly thân, hoàn cảnh gia
đình khó khăn, bản thân là phụ nữ phải nuôi con nhỏ nen rất mong được giảm
án. Chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo gồm: Biên lai thu tiền số
0001840 ngày 03/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh thể hiện (sau
-- 14 of 20 --
15
khi xét xử sơ thẩm) bị cáo đã nộp số tiền 75.000.000 đồng thu lợi bất chính; Đơn
xin xác nhận ngày 13/3/2026, xác nhận của công an xã N ngày 17/3/2026 với
nội dung quá trình cư trú tại địa phương từ ngày 17/10/2024 đến hiện tại bị cáo
không có vi phạm pháp luật; các tài liệu, giấy tờ thể hiện gia đình bị cáo có
người thân có công với cách mạng, gia đình văn hóa tại địa phương.
Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp lại toàn bộ
số tiền thu lợi bất chính, nộp thêm các chứng cứ chứng minh về hoàn cảnh gia
đình khó khăn và có người thân có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ
mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Ngoài ra, bị cáo thể hiện thái
độ ăn năn hối cải về hành vi đã làm mong được sự khoan hồng của pháp luật
trong việc xem xét giảm án cho bị cáo để bị cáo có cơ hội chăm sóc con. Do đó,
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo về việc giảm hình phạt, xử bị cáo
mức hình phạt tù bằng thời gian đã tạm giam.
[3.2] Đối với các bị cáo Nguyễn T1, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn B:
Trên cơ sở hành vi các bị cáo đã thực hiện và xem xét áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ, Bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 2, Điều 341; r (cấp phúc thẩm
xác định là điểm t) và s, v (đối với H1 và T1), khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
38; Điều 58 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
xử phạt bị cáo T1 15 tháng tù, các bị cáo H1 và B mỗi bị cáo 06 tháng tù là có
căn cứ, đúng quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo kháng cáo
xin được giảm hình phạt xuống hình phạt tiền và nộp các chứng cứ chứng minh
cho yêu cầu kháng cáo như sau:
- Bị cáo Nguyễn T1: Đơn xin xác nhận ngày 17/3/2026, có xác nhận của
công an xã N ngày 17/3/2026 với nội dung quá trình cư trú tại địa phương bị cáo
không có vi phạm pháp luật; các tài liệu, giấy tờ thể hiện gia đình bị cáo có
người thân có công với cách mạng; sổ tiết kiệm với số tiền 100.000.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Phi H1: Các tài liệu, giấy tờ thể hiện gia đình có người
thân có công với cách mạng; sổ tiết kiệm với số tiền 50.000.000 đồng; Đơn xin
giảm hình phạt cho bị cáo của Linh mục và giáo dân giáo xứ S – Thành phố H.
- Bị cáo Nguyễn Văn B: Tài liệu giấy tờ thể hiện gia đình có người thân
có công với cách mạng; Đơn xin xác nhận ngày 11/3/2026, có xác nhận của
công an xã L với nội dung quá trình cư trú tại địa phương bị cáo không có vi
phạm pháp luật; sổ tiết kiệm với số tiền 50.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ
quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp
dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử các bị cáo mức hình phạt quy định tại khung
1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật. Các bị cáo kháng cáo có
nộp kèm chứng cứ chứng minh có các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản
2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bên cạnh đó theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự
có quy định hình phạt tiền và các bị cáo đã nộp chứng cứ chứng minh có khả
năng chấp hành hình phạt tiền nếu được chấp nhận kháng cáo. Do vậy Hội đồng
xét xử tại cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo T1, H1 và
B về việc xin giảm hình phạt xuống hình phạt tiền.
-- 15 of 20 --
16
[3.3] Xét yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Trần
Thanh H, Nguyễn Thị Cẩm G, Nguyễn Bá Nhựt T2, Ngô Thành T3.
Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo nộp các tài liệu, chứng cứ như sau:
- Bị cáo Trần Thanh H: Đơn xin xác nhận ngày 11/3/2026, có xác nhận
của công an phường M, tỉnh Đồng Tháp với nội dung trong thời gian cư trú tại
địa phương, bị cáo không có vi phạm pháp luật; các tài liệu, giấy tờ thể hiện gia
đình bị cáo có người thân có công với cách mạng; gia đình có thành tích trong
phong trào hội nông dân tại địa phương.
- Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm G: Tài liệu thể hiện bị cáo đã ly hôn từ ngày
01/12/2025, hiện đang nuôi con nhỏ sinh năm 2020.
- Bị cáo Nguyễn Bá Nhựt T2: Tài liệu giấy tờ thể hiện gia đình có người
thân có công với cách mạng; bị cáo có thành tích trong công tác được Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh A tặng thưởng bằng khen.
- Bị cáo Ngô Thành T3: Đơn xin xác nhận ngày 02/02/2026, có xác nhận
của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh về hoàn cảnh gia đình bị cáo đang trực
tiếp chăm sóc mẹ ruột 80 tuổi, già yếu, không thể tự sinh hoạt cá nhân, đi lại khó
khăn.
Trên cơ sở hành vi các bị cáo đã thực hiện bản án sơ thẩm đã căn cứ
Khoản 2 (đối với bị cáo H là khoản 3) Điều 341; r (theo cấp phúc thẩm là điểm
t) và s, khoản 1 và khoản 2 (đối với bị cáo H) Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều
58 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt
bị cáo H 02 năm tù; các bị cáo G, T2, T3 mỗi bị cáo 06 tháng tù. Ngoài ra, bản
án sơ thẩm cũng (căn cứ điều luật tương tự điều đã áp dụng đối với bị cáo H)
tuyên phạt các bị cáo Trần Thị Hồng X, Nguyễn Văn H12 (hai bị cáo này không
kháng cáo) 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo phạm tội với vai trò là đồng phạm
giúp sức cho bị cáo đầu vụ, đều nộp hết khoản tiền thu lợi bất chính và có ít nhất
02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Tòa án
cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử các bị cáo mức hình phạt
quy định tại khung 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp
luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xem xét nhân thân và xác nhận về việc chấp hành
tốt pháp luật của các bị cáo tại địa phương vào thời điểm xét xử để cho các bị
cáo X, H12 được hưởng án treo là không sai. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo H ngoài
việc nộp các chứng cứ mới về tình tiết giảm nhẹ để xin được hưởng án treo ra
thì bị cáo có nộp chứng cứ có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú
để, chứng minh là công dân chấp hành tốt quy định pháp luật nơi cư trú trong
thời gian tại ngoại. Do đó, để đảm bảo tính công bằng trong việc áp dụng hình
phạt của các bị cáo trong cùng một vụ án, yêu cầu kháng cáo của bị cáo H về
việc xin hưởng án treo được chấp nhận.
Đối với các bị cáo T3, G và T2: Bị cáo G đang là mẹ đơn thân, nuôi con
nhỏ; Bị cáo T2 có người thân có tham gia kháng chiến; Bị cáo T3 đang nuôi
dưỡng, chăm sóc mẹ già (không thể tự sinh hoạt cá nhân). Các bị cáo có nơi cư
trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 06 tháng tù. Căn
-- 16 of 20 --
17
cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, yêu cầu kháng cáo về việc xin hưởng án
treo của các bị cáo là có căn cứ được chấp nhận.
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử tại cấp phúc thẩm chấp
nhận nội dung đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm
tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của tất cả các bị cáo H, G, T2, T3 về việc được cho hưởng án treo; chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của các bị cáo C, T1, H1, B về việc giảm án hoặc được áp
dụng hình phạt tiền. Sửa một phần Bản án sơ thẩm về phần hình phạt theo
hướng phân tích nêu trên.
[5] Việc sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt là thuộc về quan điểm
đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các cấp xét xử và tại cấp phúc
thẩm các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên Hội đồng xét xử của Tòa án
cấp sơ thẩm không có lỗi.
[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị và không liên quan đến nội dung kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Số tiền bị cáo Trần Thị Kim C đã nộp tại giai đoạn xét xử phúc thẩm
sẽ được trừ vào số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo C phải nộp tại giai đoạn thi
hành án.
[8] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo có kháng cáo không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015,
Chấp nhận nội dung yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Trần Thị Kim C,
Trần Thanh H, Nguyễn T1, Nguyễn Phi H1, Nguyễn Thị Cẩm G, Nguyễn Bá
Nhựt T2, Ngô Thành T3, Nguyễn Văn B;
Sửa một phần bản án sơ thẩm số 127/2025/HS-ST ngày 28 tháng 10 năm
2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đối với phần hình phạt của các bị cáo
có kháng cáo;
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị Kim C, Trần Thanh H, Nguyễn T1,
Nguyễn Phi H1, Nguyễn Thị Cẩm G, Nguyễn Bá Nhựt T2, Ngô Thành T3,
Nguyễn Văn B phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng các điểm c, khoản 3, Điều 341; t và s, khoản 1 và khoản 2,