CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúctòa số: 413/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
2
anh H1 không thay đổi nên chị và anh H1 sống ly thân từ tháng 01/2025 cho đến
nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tấm đến ai. Nay chị không còn tình cảm
với anh H1 nên chị xin ly hôn với anh H1.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh H1 có 01 con chung tên
Nguyễn Gia K, sinh ngày 01/11/2023; từ khi ly thân chị là người trực tiếp nuôi con
chung. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu
anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng và nợ: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Thanh H1 mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không có ý kiến đối với yêu cầu của
nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ; không chấp hành giấy triệu tập,
giấy báo của Tòa án; đồng thời vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Trong quá trình thụ lý giải quyết
vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và các đương sự đều chấp hành tốt
quy định của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh H1. Về con
chung, giao cháu K cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H1 không phải cấp dưỡng
nuôi con. Về tài sản chung, riêng và nợ chung không xem xét giải quyết do đương
sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Phạm Ngọc H xin ly hôn
với bị đơn anh Nguyễn Thanh H1 thì đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình,
căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại
Tòa án năm 2025 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 4 -
Cần Thơ. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng măt, bị đơn vắng mặt lần
thứ 2 không lý do nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.