Mục lục - 3 điều ▼
Điều 26. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 91; khoản 1
Điều 228. , Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thanh
T1 đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T2 và ông Trang Linh S về việc tranh chấp
hợp đồng vay tài sản và nợ hụi.
2. Buộc bà Huỳnh Thị Cẩm T2, ông Trang Linh S phải có trách nhiệm
liên đới trả lại cho bà Thái Thanh T1 số tiền là 998.000.000 đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thanh T1
yêu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm T2 và ông Trang Linh S trả số tiền lãi là 63.000.000
đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo
hạn luật định.
* Ngày 19/12/2025, bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có đơn kháng cáo yêu
cầu sửa bản án sơ thẩm, bà chỉ đồng ý trả cho bà T1 259.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T2 giữ nguyên nội
dung kháng cáo, không yêu cầu sửa đổi, bổ sung gì thêm.
Nguyên đơn bà Thái Thanh T1 không đồng ý nội dung kháng cáo của bà
T2 đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho bà.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký, Luật sư và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện
và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-- 3 of 7 --
4
Về hướng giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn bà T1. Buộc bị đơn bà T2, ông S phải có trách nhiệm
liên đới trả lại cho bà T1 998.000.000 đồng là có cơ sở. Bị đơn bà T2 kháng cáo
yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chỉ còn nợ bà T1 259.000.000 đồng, nhưng không
cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân
sự; không chấp nhận kháng cáo của bà T2; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra; căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng
cứ; ý kiến của của nguyên đơn, bị đơn; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T2 về nội dung, quyền
kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều
271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận
xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Đồng bị đơn Trang Linh S có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản
2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng ông S.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn bà Thái Thanh T1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Huỳnh Thị
Cẩm T2, ông Trang Linh S phải trả tiền vay 700 triệu đồng, tiền lãi 03 tháng 63
triệu đồng, tiền hụi 298 triệu đồng; tổng số tiền 1.061.000.000 đồng.
Bị đơn bà T2 thừa nhận bà T1 có tham gia chơi hụi do bà T2 làm chủ hụi.
Và từ tiền hốt hụi bà T1 có đưa thêm tiền để cho vay trả góp, thỏa thuận bà T2
phải góp cho bà T1 2 triệu đồng/dây/ngày. Từ ngày 10/7/2024 đến ngày
25/8/2024 âm lịch bà T2 góp cho bà T1, tổng cộng 402 triệu đồng. Bà T2 không
thống nhất lời trình bày và yêu cầu của bà T1.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà T2 kháng cáo cho rằng chỉ còn nợ bà T1 259
triệu đồng, xét thấy: Lời khai của bà T2 luôn mâu thuẫn, tại biên bản về việc
không tiến hành hòa giải được; biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ ngày 30/10/2025, bà T2 thừa nhận còn nợ bà T1 420 triệu
đồng; về tiền hụi thì hai bên đã thỏa thuận khấu trừ xong với nhau, bà T2 không
còn nợ bà T1. Về số tiền 700 triệu đồng là tiền góp, bà T1 chơi hụi và nhờ bà T2
mở hụi hốt giùm 04 chân hụi, bà T1 có đưa thêm cho đủ 421 triệu đồng để cho
-- 4 of 7 --
5
bà T2 vay tiền góp, mỗi ngày góp 8 triệu đồng. Đến tháng 8/2024 bà T2 bể nợ
nên tuyên bố đình hụi, bà T1 tự cộng sổ và ghi bà T2 còn nợ hơn 400 triệu đồng,
do không đóng lãi, nên bà T1 tính lãi hơn 250 triệu đồng, cộng gốc và lãi thành
700 triệu đồng (BL 35, 36, 39, 40). Tại Đơn tường trình (BL 37)” bà T2 trình
bày 700 triệu đồng của bà T1 cho bà T2 vay trong 07 dây tiền góp, mỗi ngày bà
T2 phải góp 2 triệu đồng/dây/ngày. Như vậy, mỗi ngày bà T2 phải góp cho bà
T1 14 triệu đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm bà T2 khai sau khi thỏa thuận cấn trừ nợ
với nhau bà T1 còn nợ hụi bà T2 52 triệu đồng; xác định bà chỉ còn nợ bà T1
402 triệu đồng; số tiền 700 triệu đồng bà T1 cho vay của 07 dây tiền góp, vay
gốc 421 triệu đồng và tiền lãi 250 triệu đồng.
Theo Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự số: D255 và số
D256 ngày 09/6/2025 của Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Kiên Giang, có nội
dung: Từ tháng 9/2022 đến tháng 3/2024 bà T2 làm chủ 16 dây hụi, có nhiều
người tham gia, đến tháng 8/2024 bà T2 tuyên bố đình hụi, dẫn đến nợ tiền hụi
sống của 15 hụi viên trong đó có bà T1, các hụi viên yêu cầu bà T2 phải trả
2.376.256.000 đồng. Nên việc bà T2 khai không còn nợ tiền hụi của bà T1 mà
ngược lại bà T1 còn nợ bà T2 52 triệu đồng hụi chết là không có cơ sở.
Tại cấp sơ thẩm, bà T2 thừa nhận có ký biên nợ nội dung “bà T2 nợ tiền
tháng của bà T1 ngày 10/9 là 700.000.000 đồng, tiền lãi đóng mỗi tháng là
21.000.000 đồng, ngày 10-10 đóng lãi là 21.000.000 đồng, tiền hụi bà T2 T2ếu
lại là 270.000.000 đồng và 28.000.000 đồng”. Bà T2 cho rằng bị bà T1 siết nợ,
ép buộc ký biên nhận nợ. Tuy nhiên, bà T2 không cung cấp được chứng cứ để
chứng minh cho lời khai của bà, hai bên đã thỏa thuận khấu trừ nợ mà chỉ còn
nợ 259 triệu đồng, do bà T1 ép ký nhận nợ nêu trên. Do đó, kháng cáo của bà T2
là không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với việc bà T1 yêu cầu bà T2 trả tiền lãi 63 triệu đồng của số tiền vay
700 triệu đồng, nhưng bà T1 không chứng minh được bà T2 có nợ tiền lãi. Xét
thấy, bà T2 giao dịch vay tiền, chơi hụi với bà T1 mục đích đáp ứng nhu cầu
T2ết yếu của gia đình, không phải sử dụng tiền cho mục đích cá nhân trái pháp
luật. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T2 và ông S phải có nghĩa vụ liên đới thực
hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T1 là phù hợp với pháp luật. Các bên đương sự
không có kháng cáo yêu cầu xem xét vấn đề này nên có hiệu lực pháp luật.
Từ những cơ sở nêu trên, trong nghị án, thảo luận Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của bà T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-- 5 of 7 --
6
[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là
phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí phúc thẩm: Bà T2 kháng cáo không được chấp nhận nên
phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T2.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 163/2025/DS-ST ngày 04/12/2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang.
2. Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 91, khoản 1 Điều 228, Điều 271,
Điều 273. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thanh
T1 đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T2 và ông Trang Linh S về việc tranh chấp
hợp đồng vay tài sản và nợ hụi.
Buộc bà Huỳnh Thị Cẩm T2, ông Trang Linh S phải có trách nhiệm liên
đới trả lại cho bà Thái Thanh T1 số tiền là 998.000.000 đồng (chín trăm chín
mươi tám triệu đồng).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thanh T1
yêu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm T2 và ông Trang Linh S trả số tiền lãi là 63.000.000
đồng (sáu mươi ba triệu đồng).
5. Khi có đơn yêu cầu T2 hành án của người được T2 hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được T2 hành án) cho đến khi T2 hành án xong
số tiền phải T2 hành án theo bản án này, hàng tháng bên phải T2 hành án còn
phải trả cho bên được T2 hành án số tiền lãi phát sinh tương ứng với số tiền
còn phải T2 hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
6. Về án phí:
6.1. Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T2, ông Trang Linh S phải chịu tiền
án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là 41.940.000 đồng (bốn mươi mốt triệu chín
-- 6 of 7 --
7
trăm bốn mươi nghìn đồng).
Bà Huỳnh Thị Cẩm T2 phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng.
Được khấu trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012215 ngày
19 tháng 12 năm 2025 của T2 hành án dân sự tỉnh An Giang.
6.2. Nguyên đơn bà Thái Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá
ngạch là 3.150.000 đồng. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T1 đã nộp
21.915.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0018352 ngày 24/7/2025 của T2 hành
án dân sự tỉnh An Giang. Bà T1 được nhận lại số tiền 18.765.000 đồng (mười
tám triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số: 163/2025/DS-ST ngày
04/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang không có kháng cáo,
không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được Thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa
thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND Khu vực 6;
- THA dân sự tỉnh An Giang;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Trương Ngọc Hồng
-- 7 of 7 --