CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 07 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
2
* Nguyên đơn chị Cai Thị Cẩm T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Công B tổ chức lễ cưới và
chung sống với nhau năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T,
huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là xã T tỉnh Đồng Tháp ) vào ngày 31/10/2016.
Hai vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn từ năm 2024, lý do mâu thuẫn do anh B
thường xuyên ăn nhậu, bỏ bê không lo cho con cái và ghen tuông vô cớ. Ngoài
ra còn mâu thuẫn trong việc chi tiêu tiền bạc trong gia đình. Vì vậy, vợ chồng
đã ly thân từ tháng 9/2025 đến nay. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh B.
- Về con chung: có 02 con chung.
+ Cháu Nguyễn Hồng N1 , sinh ngày 11/3/2017.
+ Cháu Nguyễn Huỳnh N2 , sinh ngày 11/03/2017.
Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N1 và cháu N2, không
yêu cầu anh Bằng cấp D nuôi con chung. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Tiên đồng
Ý giao 02 con chung cho anh B nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con,
nếu anh B yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì chị T sẽ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Công B trình bày: Về quan hệ hôn nhân anh B
thống nhất lời trình bày của chị T, anh B đồng ý với quá trình kết hôn như chị
T trình bày.
Đối với nguyên nhân mâu thuẫn thì vợ chồng không có mâu thuẫn gì, anh
B không đồng ý trình bày của chị T cho rằng anh không chăm sóc cho vợ con
và gia đình. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh B không đồng ý vì anh B còn
thương vợ, thương con anh B yêu cầu vợ chồng đoàn tụ để cùng chăm lo cho
gia đình vì hiện nay anh B và 02 con đang chung sống cùng cha mẹ vợ, cha mẹ
vợ yêu cầu vợ chồng đoàn tụ.
Nếu Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn với anh B thì anh B có ý kiến như
sau:
Về con chung có 02 con chung:
+ Cháu Nguyễn Hồng N1 , sinh ngày 11/3/2017.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.