Bị đơn ông Phan Văn K có đơn xin vắng mặt đề ngày 19/5/2026, căn cứ
khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm
tiến hành xét xử vắng mặt ông K.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
kháng cáo.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Anh D, Hội đồng
xét xử phúc thẩm xét thấy:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của ông D và
ông K, cả hai thống nhất vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 13/4/2025, ông Phan
Văn K điều khiển xe mô tô kéo theo xe đẩy chở xoài chạy hướng B đi T, đến điểm
hớt tóc của ông Bé S thuộc ấp B, xã C (trước đây thuộc xã B, huyện C) thì va
chạm với xe mô tô biển số 67-L1 367.76 do ông Nguyễn Anh D điều khiển, làm
ông D bị ngã xuống đường, bị chấn thương và được đưa đi cấp cứu tại trạm xá
sau đó đưa đến Bệnh viện Đ - tỉnh Đồng Tháp. Sự việc xảy ra hai bên không có
đến trình báo đến cơ quan có thẩm quyền mà tự thỏa thuận theo biên nhận ngày
26/5/2025. Do đó, việc xác định mức độ thiệt hại tùy thuộc vào việc các bên tự
thỏa thuận.
Nay ông D cho rằng từ ngày 13/4/2025 cho đến nay, ông K chỉ hỗ trợ
20.000.000 đồng, không thực hiện đúng cam kết là hỗ trợ, bồi thường các chi phí
điều trị, tái khám và các chi phí phát sinh đến khi ông chữa lành vết thương. Ông
D cung cấp bảng kê, tổng số tiền qua hai đợt ông đi điều trị và tái khám tại Bệnh
viện C với số tiền 39.497.123 đồng, gồm:
Đợt 1: Từ ngày 14/4/2025 đến ngày 16/5/2025, số tiền 27.512.243 đồng.
Đợt 2: Từ ngày 12/6/2025 đến ngày 11/8/2025, số tiền 11.984.880 đồng.
Xét, biên nhận ngày 26/5/2025 giữa ông D với ông K thỏa thuận có nội
dung: “Anh K hỗ trợ chi phí số tiền 20.000.000 đồng, đồng thời anh K sẽ hỗ trợ
50% chi phí tái khám vết thương (gãy cột kín trước L2) do va chạm giao thông
xảy ra ngày 13/4/2025 tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang cho đến khi vết
thương lành. Chi phí điều trị tại Bệnh viện C và chi phí thuê xe đưa từ nhà đến
-- 4 of 7 --
5
bệnh viện và từ bệnh viện đến nhà. Hai bên cam kết sẽ không khiếu nại, khiếu kiện
về sau”.
Theo chứng cứ ông D cung cấp thể hiện:
* Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đ và Bệnh viện C, cụ thể như sau:
- Phiếu thu viện phí ngày 19/4/2025 của Bệnh viện Đ, chi phí điều trị
5.160.719 đồng (thời gian điều trị từ ngày 13/4/2025 đến ngày 14/4/2025).
- Hóa đơn ngày 14/4/2025 của Bệnh viện C số tiền 1.109.500 đồng.
- Ngày 15/5/2025 số tiền 1.428.960 đồng thể hiện tại:
+ Hóa đơn ngày 15/5/2025 của Bệnh viện C số tiền 1.268.960 đồng.
+ Phiếu thu ngày 15/5/2025 của Bệnh viện C số tiền 160.000 đồng.
- Ngày 12/6/2025 số tiền 1.109.500 đồng thể hiện tại:
+ Hóa đơn ngày 12/6/2025 số tiền 985.600 đồng của Bệnh viện C.
+ Phiếu thu ngày 12/6/2025 của Bệnh viện C số tiền 50.600 đồng.
+ Phiếu X-quang ngày 12/6/2025 của Bệnh viện C số tiền 73.300 đồng.
- Ngày 10/7/2025 số tiền 2.290.600 đồng thể hiện tại:
+ Hóa đơn ngày 10/7/2025 của Bệnh viện C số tiền 2.240.000 đồng.
+ Phiếu thu ngày 10/7/2025 của Bệnh viện C số tiền 50.600 đồng.
- Ngày 07/8/2025 số tiền 784.060 đồng thể hiện tại:
+ Hóa đơn ngày 07/8/2025 của Bệnh viện C số tiền 733.460 đồng.
+ Phiếu thu ngày 07/8/2025 của Bệnh viện C số tiền 50.600 đồng.
- Ngày 11/8/2025 số tiền 1.800.720 đồng thể hiện tại hóa đơn ngày
11/8/2025 của Bệnh viện C.
Như vậy, căn cứ theo nội dung giữa hai bên thỏa thuận ngày 26/5/2025 thì
phần các hóa đơn, toa thuốc trước ngày 26/5/2025 thì hai bên đã thống nhất số
tiền bồi thường 20.000.000 đồng nên không có căn cứ để xem xét lại. Đối với
phần chi phí tái khám, điều trị tiếp theo sau ngày 26/5/2025 sẽ là căn cứ để xác
định yêu cầu bồi thường thiệt hại, cụ thể các chi phí điều trị từ ngày 12/6/2025
đến ngày 11/8/2025 đã liệt kê ở trên có tổng số tiền 5.984.880 đồng.
* Về tiền xe đi lại từ ngày 12/6/2025 đến ngày 11/8/2025, theo bảng kê ông
D cung cấp số tiền 6.000.000 đồng.
Từ phân tích trên, cho thấy tổng chi phí điều trị tái khám là 5.984.880 đồng
và chi phí đi lại qua các lần tái khám số tiền 6.000.000 đồng, tổng cộng là
11.984.880 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm đã xác định và buộc ông K phải bồi thường
thêm 50% thiệt hại sức khỏe cho ông D theo như thỏa thuận ngày 25/6/2025 với
số tiền 5.992.440đ và không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông D với
-- 5 of 7 --
6
số tiền 13.504.683 đồng có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 584, khoản
1 Điều 585 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với yêu cầu của ông D về việc yêu cầu ông K bồi thường tổn thất về
tinh thần cho ông số tiền 30.000.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy,
khi sự việc xảy ra, hai bên không báo cơ quan chuyên môn nên không xác định
lỗi của các bên, không tiến hành giám định tỷ lệ thương tích mà hai bên tự thỏa
thuận với nhau về mức bồi thường và theo biên nhận thỏa thuận ngày 26/5/2025,
thể hiện: Hai bên đã thống nhất ông K bồi thường cho ông D số tiền 20.000.000
đồng, ngoài ra ông K chỉ hỗ trợ thêm 50% chi phí tái khám vết thương, tiền xe đi
lại khi tái khám; hai bên không thỏa thuận về bồi thường tổn thất tinh thần – ông
D cũng xác định tại phiên tòa phúc thẩm không có thỏa thuận yêu cầu này. Do
vậy, việc ông D yêu cầu ông K bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông số tiền
30.000.000 đồng là không có cơ sở nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn
cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nay ông D kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì khác nên
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông D, giữ
nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa.
Các phần quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Anh D được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Anh D.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 09 tháng 01
năm 2026 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 120/2026/QĐ-SCBS ngày
29 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang:
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh D.
Buộc ông Phan Văn K có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Anh D số
tiền 5.992.440đ (năm triệu chín trăm chín mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi
đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh D về
việc yêu cầu ông Phan Văn K bồi thường thiệt hại số tiền 13.504.683đ (mười ba
-- 6 of 7 --
7
triệu năm trăm lẻ bốn nghìn sáu trăm tám mươi ba đồng) và bồi thường tổn thất
về tinh thần số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí sơ thẩm: Ông Phan Văn K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Anh D được miễn án phí dân
sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND khu vực 11 - An Giang;
- Phòng THADS khu vực 11 - An Giang;
- Đương sự;
- Lưu: Văn phòng, Tòa dân sự,
Phòng GĐ,KT,TT&THA, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Minh Châu
-- 7 of 7 --