áp dụng thêm tình tiết này và xử bị cáo Mạnh H từ 05 năm – 06 năm tù. Đối với
bị cáo Hữu H1, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
2.9. Các bị cáo và người bào chữa giữ nguyên nội dung đã trình bày, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét.
3. Phần các bị cáo nói lời sau cùng:
3.1. Bị cáo Huỳnh Tuấn A1: Viện kiểm sát đã rút kháng nghị đối với bị
cáo và 02 bị cáo còn lại, vì quyết định tham gia gói thầu 25 ảnh hưởng toàn bộ
nhân viên công ty T23, xin lỗi công ty, gia đình. Bị cáo có thời gian ngắn tiếp
-- 32 of 46 --
33
xúc với bị cáo Trần Mạnh H thì theo bị cáo thì bị cáo H là chuyên viên nhiệt
tình, có tâm, vì hành vi ghi nhầm ngày chứng thư nháp và chứng thư gốc dẫn
đến việc phạm tội xin xem xét cho bị cáo H và các bị cáo còn lại.
3.2. Bị cáo Trần Mạnh H: Trong giai đoạn chống dịch mọi hoạt động đều
khó khăn, không có người hỗ trợ cho bị cáo, trong quá trình thực hiện nhiều khi
có thiếu sót chỉ thiếu ngày, tháng, bản chất bị cáo khi làm dự án luôn tâm niệm
hạn chế tối đa cho Ngân sách Nhà nước, với áp lực dự án do bị chậm tiến độ và
khi triển khai dự án là cao điểm mùa dịch nên mọi thứ khó khăn; tiến độ giải
ngân vốn đầu tư công cũng bị áp lực, thời gian tổ chức đấu thầu tối thiểu 06
tháng trong trường hợp có phát sinh thì phải qua năm sau, trong khi vốn đầu tư
công trước 31/12 hàng năm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
3.3. Bị cáo Đỗ Hữu H1: Bị cáo nhiệt tình trách nhiệm khi tham gia dự án.
Sau khi dự án hoàn thành được Ủy ban nhân dân tỉnh K3. Bị cáo chấp nhận Bản
án sơ thẩm, không kháng cáo, bị cáo đã bị tạm giam hơn 02 năm, xin Hội đồng
xét xử giảm hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình, vợ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại
diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại, người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
[1.1] Các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T, Trần Mạnh H,
Phạm Minh A kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ
điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Quyết định Kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-VKS-P3 ngày
17/12/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là
đúng thẩm quyền, còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 07/5/2026, bị cáo Phạm Minh A vắng
mặt. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử
phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh rút kháng nghị về phần xác định thiệt
hại, phần hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T.
Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định đình
chỉ xét xử đối với kháng nghị của Viện kiểm sát về phần xác định thiệt hại, phần
hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T
[3] Về nội dung:
[3.1] Qua lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo
tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết
luận định giá cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận:
-- 33 of 46 --
34
Gói thầu số 25 - Thiết bị cho phòng M4 chấn thương chỉnh hình, thuộc dự
án Trang thiết bị y tế Bệnh viện đa khoa thành phố V do Sở Y tế tỉnh B (nay là
Thành phố Hồ Chí Minh) làm chủ đầu tư, là một trong số 25 gói thầu được phê
duyệt theo Quyết định số 1165/QĐ-UBND ngày 11/5/2020 của UBND tỉnh B.
Hình thức thực hiện là đấu thầu rộng rãi qua mạng, phương thức đấu thầu 01
giai đoạn, 02 túi hồ sơ, giá dự toán là 38.410.000.000 đồng, giá trị trúng thầu là
37.980.000.000 đồng; đã thanh toán cho doanh nghiệp 35.752.990.909 đồng.
Trong quá trình thực hiện gói thầu nói trên đã có những vi phạm pháp luật cụ thể
như sau:
[3.1.1] Hành vi của các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Tạ Quang T, Lê Hữu L1:
Khoảng cuối tháng 5/2021, khi biết thông tin Sở Y tế tỉnh B có thông báo
mời thầu Gói thầu số 25 được đăng tải trên trang mua sắm công, Huỳnh Tuấn
A1 và Lê Hữu L1 đã liên hệ với nhau để trao đổi về việc Công ty Y có năng lực
về tài chính, năng lực dự thầu nên sẽ đứng tên trên Hồ sơ dự thầu, Công ty T23
sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị hàng hóa. Tuy nhiên, để tránh việc lộ thông tin
năng giá bán hàng với chênh lệch cao, giữa hai Công ty T23 và V3 không ký kết
thỏa thuận liên doanh, liên kết dự thầu phù hợp pháp luật đấu thầu mà Công ty
T23 sẽ mua hàng rồi bán lại cho Công ty Y với mức giá được nâng lên so với
giá mua vào, sau đó Công ty Y sẽ bán cho Sở Y tế tỉnh B với mức giá chênh
lệch không cao so với giá mà Công ty Y đã ký hợp đồng mua bán với Công ty
T23. Nếu trúng thầu, Công ty Y sẽ được chia lợi nhuận khoảng từ 1,7 đến 1,8%
tổng giá trị gói thầu. Sau khi được Lê Hữu L1 báo cáo, Tạ Quang T đồng ý thực
hiện.
Huỳnh Tuấn A1 đã cùng với Lê Hữu L1, Tạ Quang T thực hiện hành vi
gian dối khi tạo lập hồ sơ tham gia đấu thầu; sau khi trúng thầu không thực hiện
đúng nội dung hồ sơ dự thầu mà ký hợp đồng qua bên thứ ba nhằm nâng giá
trang thiết bị y tế để thu lợi bất chính. Hành vi nêu trên của Huỳnh Tuấn A1, Lê
Hữu L1 và Tạ Quang T là hành vi gian lận trong đấu thầu khi cung cấp thông tin
không trung thực trong hồ sơ dự thầu dẫn đến sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu
đã vi phạm điểm c khoản 4 Điều 89 Luật Đấu thầu năm 2013, mục đích để cho
Công ty Y trúng thầu và thu lợi bất chính lớn, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm
trọng cho tài sản Nhà nước.
Theo Kết luận định giá số 15 ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá
trong tố tụng hình sự kết luận:
- Giá trị tài sản chưa bao gồm chi phí và lợi nhuận của nhà phân phối là
14.386.398.790 đồng.
- Giá trị tài sản đã bao gồm chi phí và lợi nhuận của nhà phân phối thứ
nhất là 17.688.100.171 đồng.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản sản (giá trị tài sản đã bao gồm chi phí và
lợi nhuận của nhà phân phối) và giá trị tài sản đã được Sở Y tế đã thanh quyết
-- 34 of 46 --
35
toán cho công ty Y là 35.752.990.909 đồng, xác định số tiền chênh lệch là
35.752.990.909 đồng - 17.688.100.171 đồng = 18.064.890.192 đồng.
Kết luận định giá số 15/KL-HĐĐGTS được ban hành căn cứ trên việc
thẩm định giá tài sản có hóa đơn, chứng từ hợp lý, hợp lệ kèm theo, tuy nhiên
Kết luận định giá cũng ghi nhận việc định giá trong Tố tụng hình sự có một số
hạn chế, chỉ ghi nhận các khoản có chứng từ, hóa đơn hợp lý, hợp lệ, không ghi
nhận chi phí có thể phát sinh, giá trị tài sản chưa thể phán ánh đầy đủ phát sinh.
Quá trình điều tra, truy tố đã xác minh, làm rõ thực tế trong quá trình thi công
lắp đặt phòng mổ chấn thương chỉnh hình có phat sinh chi phí 5.647.373.767
đồng, như: tháo dỡ, cải tạo phòng mổ (tháo dỡ những hạng mục không đạt tiêu
chuẩn, không phù hợp, cải tạo lại phần xây dựng thô của phòng), chi phí phần
mềm điều khiển từng máy và toàn bộ hệ thống phòng mổ, chi phí cân chỉnh máy
móc để chạy thử, chi phí đào tạo hướng dẫn sử dụng, bảo hành bảo trì; chi phí
này chưa được định giá xác định trong kết luận định giá tài sản do không có hóa
đơn chứng từ, nhưng là các chi phí cần thiết, được nêu tại Hợp đồng giữa Công
ty T23 và Công ty Y, Hợp đồng giữa Công ty Y và Sở Y tế, được ghi nhận tại
biên bản hiện trường thống nhất phương án triển khai Gói thầu 25, biên bản
nghiệm thu lap đặt, chạy thử máy móc. Tính đến nay phòng mổ vẫn hoạt động
có hiệu quả, bị hại không có ý kiến đối phần chi phí phát sinh đã được các Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát xác định. Căn cứ Điều 9
Thông tư số 25/2014/TT-
BTC ngày 17/02/2014 của Bộ T30 Quy định phương pháp định giá chung đối
với hàng hóa, dịch vụ; Khoản 5 Điều 4 Chương II
Thông tư liên tịch số
01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 Quy định
những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp trong giải quyết
các vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế: “5. Trường hợp gặp khó khăn, vướng
mắc trong việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực đầu tư gây ra, thì mức độ thiệt hại được xác định theo nguyên tắc lấy
tổng chi phí đầu tư dự án trừ đi chi phí hợp lý, hợp lệ…”, có cơ sở xác định chi
phí thực tế phát sinh hợp lý là 5.647.373.767 đồng để cấn trừ tính thiệt hại trong
vụ án.
Do đó xác định thiệt hại của Sở Y trong vụ án là 35.752.990.909 đồng -
17.688.100.171 đồng - 5.647.373.767 đồng = 12.417.516.425 đồng.
[3.1.2] Hành vi của các bị cáo Đỗ Hữu H1, Trần Mạnh H, Phạm Minh A:
Phạm Minh A - Giám đốc Sở Y tế tỉnh B, Trần Mạnh H - Chuyên viên
Phòng Kế hoạch Tài chính Sở Y tế, Đỗ Hữu H1 - Giám đốc Công ty TNHH T22
là những người có chức trách, nhiệm vụ trong Dự án Gói thầu số 25, trong đó
Phạm Minh A là đại diện Chủ đầu tư, Trần Mạnh H được giao nhiệm vụ trực
tiếp tham mưu cho lãnh đạo - chủ đầu tư, Đỗ Hữu H1 có trách nhiệm tư vấn
quản lý dự án đối với Gói thầu số 25. Tuy nhiên, các bị cáo chỉ dựa trên bản Dự
thảo Chứng thư thẩm định giá (không hợp lệ), không kiểm tra, đánh giá tính
pháp lý của chứng thư để lập tờ trình đề nghị phê duyệt cấu hình, tính năng,
thông số kỹ thuật và dự toán gói thầu, từ đó ký ban hành Quyết định số 437/QĐ-
-- 35 of 46 --
36
SYT ngày 20/5/2021 phê duyệt cấu hình, tính năng, thông số kỹ thuật và dự toán
gói thầu là 38.410.000.000 đồng, tạo điều kiện để các bị cáo Huỳnh Tuấn A1
(Công ty T23), Tạ Quang T, Lê Hữu L1 (Công ty Y) được trúng thầu cung cấp
trang thiết bị y tế phòng mổ Hybrid chấn thương chỉnh hình Bệnh viện đa khoa
thành phố V theo giá trúng thầu là 37.980.000.000 đồng, gây thiệt hại tài sản
Nhà nước số tiền 12.417.516.425 đồng.
[3.2] Các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T, Phạm Minh A,
Trần Mạnh H, Đỗ Hữu H1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T nhận thức được việc
việc thực hiện trái các quy định của pháp luật về đấu thầu, gian dối khi tạo lập
hồ sơ tham gia đấu thầu, ký hợp đồng qua bên thứ ba nhằm nâng khống giá hàng
hóa đấu thầu để thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực
hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự
quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu, làm ảnh hưởng đến hoạt
động bình thường, uy tín của hoạt động đấu thầu, gây thiệt hại tài sản Nhà nước.
Các bị cáo Phạm Minh A, Trần Mạnh H, Đỗ Hữu H1 là người có chức vụ,
quyền hạn trong các tổ chức, cơ quan có trách nhiệm tư vấn, tham mưu, phê
duyệt, tổ chức đấu thầu. Các bị cáo tuy có điều kiện xác minh, kiểm tra thông tin
hợp lệ của hồ sơ nhưng đã không thực hiện đúng nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật, dẫn đến việc phê duyệt gói thầu với giá dự toán cao, tạo điều kiện cho
các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T tham gia dự thầu, trúng
thầu với giá cao hơn so với giá trị thực tế của hàng hóa, thiết bị y tế, gây thiệt
hại tài sản Nhà nước.
[3.3] Với hành vi nêu tại mục [3.1] và nhận định tại mục [3.2], Tòa án cấp
sơ thẩm xét xử các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T phạm tội
“Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 3 Điều
222 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xét xử các bị
cáo Phạm Minh A, Trần Mạnh H, Đỗ Hữu H1 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây
hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 3 Điều 360 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng
quy định pháp luật.
[4] Xét kháng cáo kêu oan, không có tội của bị cáo Trần Mạnh H:
Bị cáo Trần Mạnh H kháng cáo kêu oan với lý do bị cáo không có trách
nhiệm trong việc kiểm tra, rà soát đối với các đơn vị tư vấn của Dự án trang thiết
bị y tế tại Bệnh viện Đ; Kết luận định giá số 15/KL-HĐĐGTS trái pháp luật về
hình thức và nội dung.
Xét thấy, như nội dung và nhận định đã nêu tại mục [3], bị cáo Trần Mạnh
H là Chuyên viên Phòng Kế hoạch Tài Chính Sở Y tế, được phân công, giao
nhiệm vụ trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo là bị cáo Phạm Minh A – Giám đốc
Sở Y tế, đại diện Chủ đầu tư, đối với việc tổ chức đấu thầu mua sắm, kiểm soát
chất lượng vật tư, hàng hóa, trang thiết bị y tế. Đối với Gói thầu số 25, bị cáo
-- 36 of 46 --
37
Mạnh H được giao nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng đối với
các đơn vị tư vấn đã ký với Sở Y đồng thời rà soát, kiểm tra các Văn bản của các
đơn vị tư vấn trước khi trình Giám đốc Sở Y tế ký phê duyệt. Bị cáo Mạnh H
sau khi nhận được Dự thảo Chứng thư thẩm định giá do Công ty T27 gửi qua
email thì đã chuyển tiếp cho Công ty T22 lập Tờ trình đề nghị phê duyệt cấu
hình, tính năng, thông số kỹ thuật và dự toán gói thầu. Bị cáo biết Tờ trình do
Công ty T22 lập chỉ căn cứ vào Dự thảo Chứng thư thẩm định giá để ban hành là
không đúng quy định nhưng không báo cáo lãnh đạo mà tiếp tục căn cứ Tờ trình
lập không đúng quy định để tham mưu cho lãnh đạo ký quyết định phê duyệt.
Sau đó, bị cáo Mạnh H dù biết Báo cáo và Chứng thư thẩm định giá có nêu
những hạn chế trong quá trình thẩm định và biết Bảng báo giá ghi tên Công ty
N5 là căn cứ ban hành Chứng thư không có giá trị pháp lý nhưng không báo cáo
cho lãnh đạo để có biện pháp ngăn chặn, sửa chữa mà tiếp tục tham mưu tổ chức
đấu thầu. Như vậy, bị cáo Trần Mạnh H có trách nhiệm trong việc kiểm tra, rà
soát, tham mưu cho lãnh đạo trong việc phê duyệt gói thầu, tổ chức đấu thầu
nhưng đã thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúng trách nhiệm, dẫn đến hậu quả
bị cáo Phạm Minh A đã ký quyết định phê duyệt, tổ chức đấu thầu với giá dự
toán cao, tạo điều kiện cho nhóm bị cáo Huỳnh Tuấn A1 trúng thầu với giá cao.
Việc định giá hàng hóa, tài sản trong vụ án dựa trên các hóa đơn, chứng từ
hợp lý, hợp lệ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đây là căn cứ để xác định
thiệt hại trong vụ án. Bị cáo Mạnh H kháng cáo cho rằng Kết luận định giá số
15/KL-HĐĐGTS trái pháp luật về hình thức và nội dung nhưng không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh để Hội đồng xét xử xem xét.
Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo kêu oan,
không có tội của bị cáo Trần Mạnh H.
[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Lê
Hữu L1, Tạ Quang T:
Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét nhân thân, mức độ thực
hiện hành vi phạm tội, xem xét vai trò của các bị cáo trong đồng phạm, trong đó
bị cáo Huỳnh Tuấn A1 có vai trò cao nhất trong nhóm các bị cáo đồng phạm về
hành vi vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, cao hơn các bị
cáo Lê Hữu L1 và Tạ Quang T.
Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết của các bị cáo là: Các bị
cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền khắc
phục một phần hậu quả của vụ án, bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo.
Bị cáo Tuấn A1 có tài sản để khắc phục thiệt hại, luôn nỗ lực vì cộng
đồng, xã hội, thiện nguyện đóng góp cho cá nhân, tổ chức ở nhiều nơi, đặc biệt
là trong mùa dịch Covid 19 và nhận được nhiều thư cảm ơn, thư tri ân từ Ủy ban
nhân dân tỉnh A, Ban thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ huyện T, Sở Y tế tỉnh B,
Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B, Bệnh viện Lê Lợi tỉnh B, các trường học;
được địa phương biểu dương người tốt, việc tốt.
-- 37 of 46 --
38
Bị cáo L1 bị bệnh nặng (xơ gan, viêm gan siêu vi B, viêm túi mật do sỏi
đã cắt túi mật, suy thận mạn giai đoạn cuối đã ghép thận, hiện trong tình trạng
suy giảm chức năng đa cơ quan, tỷ lệ tổn thương cơ thể được Hội đồng giám
định y khoa xác định là 81%).
Bị cáo T hiện tình trạng sức khỏe rất yếu: bị cáo bị nhồi máu não, viêm
phổi bệnh viện, tăng huyết áp, đái tháo đường típ 2, rối loại lipid máu, táo bón,
tại phiên tòa bị cáo ngồi xe lăn và không thể tự sinh hoạt, phải có thân nhân hỗ
trợ.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Tuấn A1 08 năm tù, bị cáo
L1 và bị cáo T mỗi bị cáo 07 năm tù cùng về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu
gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 3 Điều 222 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)”.
Các bị cáo Tuấn A1, L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đề nghị tăng nặng hình phạt
đối với các bị cáo Tuấn A1, L1, T vì lý do phần thiệt hại trong vụ án được khắc
phục chưa đáng kể so với thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra,
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ tình tiết này để xét xử các bị cáo thấp hơn khung
hình phạt là chưa phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo cung cấp tình tiết mới: Bị cáo Tuấn
A1 đã nộp thêm số tiền 10.203.876.425 đồng (theo các Biên lai thu số 0006264
ngày 10/4/2026, 0008138 ngày 04/5/2026) để bảo đảm khắc phục toàn bộ hậu
quả của vụ án; Bị cáo L1 mặc dù không bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc phải
tiếp tục bồi thường thiệt hại nhưng bị cáo tự nguyện nộp thêm số tiền
50.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0004869 ngày 19/3/2026) để bảo đảm
khắc phục hậu quả. Ngoài ra các bị cáo không cung cấp tình tiết mới nào khác,
các tình tiết mà các bị cáo và luật sư trình bày tại cấp phúc thẩm thì đã được Tòa
án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng.
Xét thấy, Sở Y tế thiệt hại số tiền 12.417.516.425 đồng, các bị cáo và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Y đã nộp số tiền tổng cộng
2.213.640.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả. Do số tiền Sở Y tế thanh
toán đã được Công ty Y chuyển giao cho bị cáo Tuấn A1 nên Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên buộc bị cáo Tuấn A1 còn phải bồi thường cho Sở Y tế số tiền
10.203.876.425 đồng là có cơ sở.
Như vậy, số tiền các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp
tại cấp sơ thẩm để khắc phục hậu quả là chưa đáng kể so với thiệt hại của vụ án.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo Tuấn A1 đã tự nguyện nộp thêm đủ tiền
khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án, bị cáo L1 tự nguyện giao phần tiền nộp dư
cho bị hại, đây là tình tiết mới đáng kể so với mức thiệt hại đã được bảo đảm
-- 38 of 46 --
39
khắc phục tại cấp sơ thẩm. Do thiệt hại của vụ án là thiệt hại trực tiếp do hành vi
phạm tội của các bị cáo Tuấn A1, L1, T gây ra, nay được bảo đảm khắc phục
toàn bộ nên Đại diện Viện kiểm sát rút kháng nghị tăng nặng hình phạt đối với
các bị cáo Tuấn A1, L1, T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ tình tiết
mới để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất
của hành vi phạm tội, hậu quả, thiệt hại trong vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá đây là tình tiết mới để giảm một phần
trách nhiệm hình sự của các bị cáo tại cấp phúc thẩm, có cơ sở chấp nhận kháng
cáo của các bị cáo Tuấn A1, L1, T; Chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm
sát, giảm nhẹ hình phạt tù đối với các bị cáo Tuấn A1, L1, T; Không có cơ sở
chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T.
[6] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo
Phạm Minh A, kháng nghị tăng nặng mức hình phạt tù đối với bị cáo Trần Mạnh
H, Đỗ Hữu H1:
[6.1] Về vai trò của các bị cáo phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng” của các bị cáo Phạm Minh A, Trần Mạnh H, Đỗ Hữu H1:
Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị xác định sai phạm của bị cáo Trần
Mạnh H, Đỗ Hữu H1 là nguyên nhân chính, trực tiếp dẫn đến sai phạm của bị
cáo Phạm Minh A, do vậy cần xác định bị cáo Mạnh H, Hữu H1 phải chịu trách
nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo Minh A.
Xét thấy, bị cáo Mạnh H là Chuyên viên Phòng Kế hoạch Tài chính, có
trách nhiệm trực tiếp trong quá trình làm việc với đơn vị tư vấn, tham mưu lãnh
đạo, gửi hồ sơ, tài liệu cho đơn vị tư vấn và nhận kết quả tư vấn (Tờ trình số 54),
kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu liên quan là căn cứ để phê dự toán gói
thầu, tổ chức đầu thầu nhưng đã thiếu trách nhiệm dẫn đến sai phạm khi tham
mưu cho bị cáo Minh A. Đối với bị cáo Minh A với tư cách lãnh đạo, thủ trưởng
đơn vị, nhưng có vi phạm trong quá trình phân công, giao nhiệm vụ cho bị cáo
Mạnh H không thông qua tập thể Lãnh đạo, không thông qua Phòng, Ban
chuyên môn theo quy chế làm việc mẫu do Ủy ban nhân dân tỉnh B7, không tổ
chức các cuộc họp với tập thể Ban Giám đốc và Ban Thường vụ Đảng ủy Sở Y
tế để kịp thời phát hiện các sai phạm, không kiểm tra tính hợp pháp của các tài
liệu kèm theo Tờ trình số 54; Như vậy vi phạm của bị cáo Minh A là xuyên suốt
từ khâu phân công nhiệm vụ, giám sát thực hiện, tổ chức cuộc họp, kiểm tra tính
hợp pháp của nội dung tham mưu, Tờ trình và các tài liệu kèm theo, bị cáo đã
không thực hiện đúng trách nhiệm, dẫn hệ quả không chỉ không kịp thời phát
hiện các vi phạm của bị cáo Mạnh H mà còn phê duyệt dự toán gói thầu trái quy
định, gây thiệt hại tài sản Nhà nước. Do đó, vai trò của các bị cáo Mạnh H, Minh
A gắn với phạm vi công việc, chức vụ, quyền hạn của từng bị cáo, đều là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến kết quả phê duyệt dự toán gói thầu trái quy định, nên có
vai trò ngang bằng nhau trong vụ án.
Đối với bị cáo Hữu H1 biết bị cáo Mạnh H gửi email Dự thảo Chứng thư
Thẩm định giá, nhưng vẫn căn cứ Dự thảo, không kiểm tra tính pháp lý của các
-- 39 of 46 --
40
tài liệu nêu trong Dự thảo, từ đó lập Tờ trình số 54 đề nghị phê duyệt cấu hình,
dự toán gói thầu, là cơ sở để bị cáo Mạnh H tham mưu cho bị cáo Minh A. Như
vậy, Tờ trình số 54 do bị cáo Hữu H1 lập không đúng quy định là một trong các
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sai phạm của bị cáo Minh A. Tuy nhiên bị cáo
Hữu H1 và Công ty T22 với tư cách là bên cung cấp dịch vụ tư vấn, thực hiện tư
vấn trên tài liệu do người của Sở Y là bị cáo Mạnh H cung cấp, kết quả tư vấn
của Công ty T22 vẫn cần được Sở Y tế kiểm tra, đánh giá trước khi phê duyệt.
Vì vậy, cần xem xét vai trò của bị cáo Hữu H1 có phần thấp hơn so với bị cáo
Mạnh H, Minh A.
Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần kháng nghị của
Viện kiểm sát, xem xét lại vai trò của các bị cáo Minh A, Mạnh H, Hữu H1 để
làm cơ sở xác định trách nhiệm hình sự phù hợp với vai trò của từng bị cáo.
[6.2] Về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Phạm Minh A, Trần Mạnh
H, Đỗ Hữu H1:
Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét vai trò bị cáo Minh A cao
hơn bị cáo Mạnh H, bị cáo Mạnh H cao hơn bị cáo Hữu H1, xem xét nhân thân,
xem xét các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, cụ thể:
- Bị cáo Minh A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục
một phần hậu quả của vụ án; bị cáo có cha ruột là Liệt sỹ; bị cáo có nhiều thành
tích trong công tác; tích cực trong phòng chống dịch C7, được bị hại xin giảm
nhẹ hình phạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm b, s, x, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo Mạnh H thành khẩn khai báo về hành vi vi phạm của mình; bị cáo
có mẹ ruột là Liệt sỹ; tích cực trong phòng chống dịch C7, được bị hại xin giảm
nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Hữu H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc
phục một phần hậu quả của vụ án; bị cáo làm công ăn lương, được thuê làm
Giám đốc, là lao động chính trong gia đình, con mới sinh đang còn nhỏ, mẹ già,
bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự cho bị cáo
Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Minh A 05 (Năm) năm tù, bị
cáo Mạnh H 04 (Bốn) năm tù, bị cáo Hữu H1 03 (Ba) năm tù cùng về tội “Thiếu
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 3 Điều 360 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Minh A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị tăng
mức hình phạt tù đối với các bị cáo Mạnh H, Hữu H1; Sở Y tế Thành phố H có
văn bản đề nghị giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo Minh A.
-- 40 of 46 --
41
Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo Minh A, Mạnh H, Hữu H1 không cung cấp
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, các tình tiết mà các bị cáo và luật sư
trình bày tại cấp phúc thẩm thì đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng.
Đối với tình tiết mẹ bị cáo Mạnh H là liệt sỹ (quy định tại điểm x khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự) thì đã được Tòa án cấp sơ thẩm nhận định nhưng ghi căn cứ
pháp lý điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có sai sót nhưng không làm
ảnh hưởng đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng
xét xử điều chỉnh về chính tả để phù hợp với căn cứ pháp lý. Đại diện Viện kiểm
sát giữ nguyên quan điểm kháng nghị, đề nghị tăng mức hình phạt tù đối với bị
cáo Mạnh H, Hữu H1, đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt tù đối với bị cáo
Minh A.
Như đã nhận định, Hội đồng xét xử xem xét lại về vai trò của các bị cáo
trong vụ án nên cần xem xét, đánh giá áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính
chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra, phù hợp với vai trò, tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Trong đó bị cáo Minh A và bị
cáo Mạnh H có vai trò ngang ngang nhau, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên phạt bị cáo Mạnh H là chưa tương xứng với vai trò của bị cáo, có phần
nhẹ. Mặc dù vai trò ngang nhau, nhưng bị cáo Minh A có nhiều tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự hơn so với bị cáo Mạnh H, nên cần phân hóa hình phạt
tương xứng với từng bị cáo. Bị cáo Hữu H1 có vai trò thấp hơn các bị cáo Minh
A, Mạnh H nhưng thấp hơn không nhiều, vì Tờ trình số 54 của Công ty T22 là
cơ sở trực tiếp để bị cáo Mạnh H tham mưu, bị cáo Minh A2 phê duyệt, dẫn đến
thiệt hại Ngân sách Nhà nước số tiền đặc biệt lớn, mức hình phạt Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên xử bị cáo Hữu H1 là có phần nhẹ, nên cũng cần xem xét áp dụng
mức hình phạt tương xứng với vai trò của bị cáo Hữu H1.
Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần kháng nghị của
Viện kiểm sát, tăng mức hình phạt tù đối với các bị cáo Mạnh H, Hữu H1; chấp
nhận một phần kháng cáo của bị cáo Minh A và đề nghị của Viện kiểm sát, giảm
nhẹ hình phạt tù đối với bị cáo Minh A; không chấp nhận nhận kháng cáo xin
hưởng án treo của bị cáo Minh A.
[7] Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tuấn A1 đề nghị xác định lại thiệt
hại của vụ án, xác định bị cáo chỉ chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi số tiền
2.760.844.478 đồng.
Bị cáo Tuấn A1 kháng cáo cho rằng Kết luận định giá số 15 có nhiều
thiếu sót dẫn đến tính toán thiệt hại vụ án và lợi nhuận của Công ty T23 cao hơn
rất nhiều so với thực tế; Theo sổ sách doanh thu Gói thầu số 25 là
35.428.944.598 đồng, chi phí Công ty T23 thực hiện Gói thầu là 29.194.127.627
đồng, thuế Thu nhập doanh nghiệp là 1.246.963.392 đồng, công ty Y chưa thanh
toán 2.227.009.091 đồng, do đó Công ty T23 chỉ thu lợi 2.760.844.478 đồng; đề
nghị Tòa án xác định bị cáo Tuấn A1 chỉ chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi
số tiền 2.760.844.478 đồng.
-- 41 of 46 --
42
Xét thấy, Kết luận định giá số 15/KL-HĐĐGTS được ban hành đúng quy
định của pháp luật, là cơ sở để xác định thiệt hại trong vụ án. Bị cáo Tuấn A1
kháng cáo cho rằng Kết luận định giá có nhiều thiếu sót dẫn đến tính toán thiệt
hại vụ án cao hơn so với thực tế nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
để Hội đồng xét xử xem xét.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, theo quy định tại Điều 585 Bộ luật
dân sự 2015, điểm b khoản 1 Điều 2
Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày
06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ
luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: “Thiệt hại về
vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm…”,
nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3
Nghị quyết
số 02/2022/NQ-HĐTP:“b) “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ” là tất cả
các thiệt hại thực tế xảy ra đều phải được bồi thường”.
Như vậy thiệt hại phải được bồi thường là toàn bộ khoản tổn thất vật chất
thực tế của Sở Y (Bị hại), trực tiếp do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra,
được xác định là chênh lệch giữa số tiền Sở Y đã thực tế thanh quyết toán cho
V3 so với giá trị hàng hóa nhóm bị cáo Tuấn A1 đã cung cấp và chi phí phát
sinh trong quá trình thi công, lắp đặt, là 12.417.516.425 đồng. Bị cáo Tuấn A1
đề nghị xác định bị cáo chỉ chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi số tiền Công
ty T23 thu lợi 2.760.844.478 đồng là không đúng quy định của pháp luật về
nguyên tắc bồi thường thiệt hại.
Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tuấn A1 về phần xác định lại thiệt hại, trách nhiệm dân sự của bị cáo Tuấn A1;
giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
[8] Về xử lý tài sản kê biên đối với nhà đất thuộc quyền sở hữu, quyền sử
dụng của bị cáo Huỳnh Tuấn A1 và vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc D:
Ngày 29/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Thành
phố Hồ Chí Minh) đã ban hành Lệnh Kê biên tài sản số 328/LKB-CSKT-D4, kê
biên căn nhà tại số E Đường số D, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố
Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 14, diện tích 96,2m², địa chỉ Lô
B khu nhà ở T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BY
618230 do Ủy ban nhân dân Quận G2 cấp ngày 20/8/2015 cho Huỳnh Tuấn A1
và Nguyễn Thị Ngọc D.
Xét thấy thiệt hại của Sở Y tế trong vụ án là 12.417.516.425 đồng. Số tiền
các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nộp tại cấp sơ thẩm để bồi
thường, khắc phục hậu quả là 2.213.640.000 đồng; Bản án sơ thẩm tuyên tuyên
buộc bị cáo Tuấn A1 còn phải bồi thường cho Sở Y tế số tiền 10.203.876.425
đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Tuấn A1 đã tự nguyện nộp số tiền
10.203.876.425 đồng, bị cáo Lê Hữu L6 tự nguyện nộp số tiền 50 triệu đồng để
khắc phục hậu quả. Như vậy tổng số tiền các bị cáo nộp thêm tại cấp phúc thẩm
đủ để bảo đảm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Bị hại là Sở Y tế Thành phố H.
-- 42 of 46 --
43
Do đó, xét thấy không còn cần thiết kê biên tài sản của bị cáo Tuấn A1 để
bảo đảm bồi thường thiệt hại cho Sở Y tế trong vụ án này, nên cần hủy Lệnh Kê
biên tài sản số 328/LKB-CSKT-D4 (trong trường hợp không bị kê biên để bảo
đảm thi hành nghĩa vụ trong vụ án khác).
[9] Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu
cầu kháng cáo của các bị cáo Phạm Minh A, Huỳnh Tuấn A1, Tạ Quang T, Lê
Hữu L1 về phần hình phạt; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát về phần
hình phạt đối với các bị cáo Trần Mạnh H, Đỗ Hữu H1; Không chấp nhận kháng
cáo kêu oan của bị cáo Trần Mạnh H; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Huỳnh Tuấn A1 về phần trách nhiệm dân sự; Sửa một phần Bản án hình sự sơ
thẩm số 760/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh về hình phạt của các bị cáo và phần xử lý tài sản kê biên theo nội dung
nhận định như trên.
[10] Nhận định trên đây cũng là lập luận của Hội đồng xét xử về việc chấp
nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đối với quan điểm giải quyết
vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, lời bào chữa của luật sư bào chữa cho các bị
cáo, các bị cáo, ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa
phúc thẩm.
[11] Do bị cáo Lê Hữu L1 tự nguyện giao cho Sở Y tế tỉnh B (nay là Sở Y
tế Thành phố H) số tiền khắc phục hậu quả 50.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp
theo Biên lai số 0004869 ngày 19/3/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ
Chí Minh, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[12] Ghi nhận số tiền các bị cáo tự nguyện nộp tại cấp phúc thẩm để thi
hành nghĩa vụ dân sự đối với Sở Y tế tỉnh B (nay là Sở Y tế Thành phố H), gồm:
- Bị cáo Huỳnh Tuấn A1 nộp số tiền 10.203.876.425 đồng, theo Biên lai
số 0006264 ngày 10/4/2026 và 0008138 ngày 04/5/2026 của Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo Lê Hữu L1 nộp số tiền 50.000.000 đồng, theo Biên lai số
0004869 ngày 19/3/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
[13] Về án phí phúc thẩm:
[13.1] Án phí hình sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận bị cáo Trần Mạnh H phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận/chấp nhận một phần nên các bị cáo
Phạm Minh A, Huỳnh Tuấn A1, Tạ Quang T, Lê Hữu L1 không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
[13.2] Án phí dân sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Huỳnh Tuấn A1
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
-- 43 of 46 --
44
[14] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 348; điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị số 05/QĐ-
VKS-P3 ngày 17/12/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh về phần xác định thiệt hại, phần hình phạt đối với các bị cáo
Huỳnh Tuấn A1, Lê Hữu L1, Tạ Quang T
2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phạm Minh A,
Huỳnh Tuấn A1, Tạ Quang T, Lê Hữu L1 về phần hình phạt; chấp nhận quyết
định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-P3 ngày 17/12/2025 của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với các bị cáo
Trần Mạnh H, Đỗ Hữu H1; Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Trần
Mạnh H; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tuấn A1 về phần trách
nhiệm dân sự; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 760/2025/HS-ST ngày
03/12/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt của các
bị cáo và phần xử lý tài sản kê biên.
2.1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh A, Trần Mạnh H và Đỗ Hữu H1 phạm tội
“Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”; các bị cáo Huỳnh Tuấn A1, Tạ
Quang T, Lê Hữu L1 phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả
nghiêm trọng".
2.1.1. Áp dụng khoản 3 Điều 222; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tuấn A1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày
bắt thi hành án.
2.1.2. Áp dụng khoản 3 Điều 222; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Tạ Quang T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn từ
tính từ ngày bắt thì hành án, trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày
22/3/2024 đến ngày 29/5/2025.
2.1.3. Áp dụng khoản 3 Điều 222; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017;
-- 44 of 46 --
45
Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu L1 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tỉnh từ ngày bắt
thi hành án.
2.1.4. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2