CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchợp pháp vào ngày 02 tháng 7 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Quảng
2
208/2026/TLKH - BS, ngày 24/02/2026. Chị C và anh T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự
nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian
thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống,
không có tiếng nói chung, cách sống của mỗi người khác nhau, thường xuyên cãi vã,
anh T không lo làm ăn, có nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Từ năm 2023 đến nay, anh
T đang chấp hành án phạt tù tại Trại Giam B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội
“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Chị C một mình nuôi con, vợ chồng không
có sự quan tâm chăm sóc và chia sẻ tình cảm với nhau suốt thời gian dài. Mục đích hôn
nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần
cố gắng tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình, nuôi dạy con tốt nhưng vẫn không
giải quyết được, mâu thuẫn ngày trầm trọng. Nay chị C mong muốn Toà án giải quyết
cho chị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị C trình bày quá trình chung sống vợ
chồng có một con chung là: Cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 09/02/2016. Hiện nay con
chung đang ở cùng chị C, sau ly hôn chị C có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc
nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Gia H. Chị C không yêu cầu anh Nguyễn Văn T
đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị C trình bày vợ chồng tự
thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Ý kiến của anh Nguyễn Văn T trình bày:
Tại Biên bản lấy lời khai do Trại giam B lập ngày 28/3/2026 đối với anh Nguyễn
Văn T có nội dung: Anh T thừa nhận thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như chị
Nguyễn Thị C trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn, anh T khai “Sau khi kết hôn không
xảy ra mâu thuẫn. Sau khi bị bắt thì tình cảm ngày càng rạn nứt, chị C chưa từng thăm
anh từ khi bị bắt đến nay. Ngày 16/9/2023 anh đi thi hành án phạt phạm tội“Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Thời hạn chấp
hành án phạt tù là 5 năm”.
Về quan hệ con chung, anh T khai nhận “Chị C trình bày về quan hệ con chung là
đúng. Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Gia H (sinh năm 2016). Sau khi ly hôn anh
đồng ý giao con cho chị C nuôi dưỡng, anh không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.