CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 01 năm 2026, những lời khai tiếp theo
cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là
Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Đồng Nai), cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày
19/12/2007.
Theo chị T, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và mâu
thuẫn chỉ phát sinh từ khoảng năm 2017 và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là
do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mọi việc
trong gia đình anh T1 không bàn bạc với chị T mà chỉ thông qua ý kiến của mẹ đẻ
nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, thậm chí xúc phạm nhau đôi khi còn xảy
ra xô xát (nhưng không để lại thương tích), vợ chồng không thể tâm sự cũng như
chia sẻ với nhau về cuộc sống và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Cũng
trong năm 2017, do mâu thuẫn trầm trọng nên chị T đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án
nhưng vợ chồng đã hòa giải nên chị T rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau đó vợ
chồng vẫn không thống nhất được quan điểm và mâu thuẫn vẫn tiếp diễn. Mặc dù
mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải và vợ chồng cũng đã nói
chuyện với nhau nhưng không có kết quả. Từ khoảng tết Nguyên đán năm 2025
cho đến nay vợ chồng đã không còn sống chung với nhau (chị T đã về sống tại nhà
của em gái), thỉnh thoảng chị T có về nhà thăm con nhưng vợ chồng không nói
chuyện với nhau. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu
cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có ba con chung là cháu Nguyễn
Thụy Tuyết N, sinh ngày 07/10/2007; cháu Nguyễn Thụy Tuyết V, sinh ngày
25/8/2012 và cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 31/8/2013. Khi ly hôn, chị T đồng ý
giao cháu V và cháu K cho anh T1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục. Chị T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 4.000.000đ (Bốn triệu
đồng) (tức 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/cháu/tháng).
Riêng cháu Nguyễn Thụy Tuyết N đã thành niên và đủ khả năng lao động
nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Thanh T khai không có và
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
Theo Biên bản lấy lời khai đề ngày 09 tháng 3 năm 2026, bị đơn - anh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.