CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTại Đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 02 tháng 3 năm 2026, trong quá
tới cuộc sống của ai nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị
Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị N có 02 con chung là Cháu Đào Duy
K, sinh ngày 05/12/2016 và cháu Đào Duy K1 sinh ngày 01/01/2021. Anh T1 đề
2
nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K và giao cháu K1 cho
chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi
con
Về tài sản, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn
Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đào Văn T kết hôn vào ngày 18 tháng 11 năm 2015
tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái cũ (nay phường Â, tỉnh Lào Cai), trên cơ
sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng
nói chung, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, hai bên gia đình đã hòa giải
nhiều lần nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề
nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Văn T.
Về con chung: Chị và anh Đào Văn T có 02 con chung như anh T đã trình
bày là đúng. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu là Cháu
Đào Duy K, sinh ngày 05/12/2016 và cháu Đào Duy K1 sinh ngày 01/01/2021.
Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Bị đơn chị Nguyễn Thị N có nơi thường trú tại Tổ dân phố K, phường Â, tỉnh Lào
Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lào
Cai.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.