CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 29 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Đắk
Điều 209. Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án đã tiến hành phiên họp và hòa giải vắng
mặt đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H. Căn cứ Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qu định của pháp luật. 3 Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) Thư ký ngu ên đơn đã thực hiện đúng v đầ đủ các qu định của BLTTDS. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Văn H, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia phiên tòa là vi phạm qu định tại Điều 70 Điều 72 Điều 227 v Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Áp dụng khoản Điều 56 Điều 8 Điều 82 của Luật Hôn nhân gia đình đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Thanh T; về hôn nhân: cho bà Nguyễn Hoàng Thanh T được ly hôn với Nguyễn Văn H; về con chung: giao con chung là Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 24/3/2022 cho bà Nguyễn Hoàng Thanh T nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng phí tổn nuôi con bà T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về án phí ngu ên đơn phải chịu tiền án phí l hôn sơ thẩm theo qu định của pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy: [1]. Xét về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Thanh T, ghi ngày 13/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 7 xác định quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con được qu định tại khoản 1
Điều 28. của BLTTDS. Xét thấy bị đơn Nguyễn Văn H cư trú tại Thôn 6, xã R,
tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a, khoản Điều 35; điểm a khoản Điều 39 của BLTTDS, Toà án nhân dân khu vực 7 thụ lý và giải quyết l đúng thẩm quyền. Xét thấy, Tòa án nhân dân khu vực 7 đã tống đạt hợp lệ cho Nguyễn Văn H: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tại phiên tòa ngu ên đơn bà Nguyễn Hoàng Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 2 4
Điều 227. ; Điều 228 của BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt ngu ên đơn bị đơn
theo qu định của pháp luật [2]. Xét về nội dung: [2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Thanh T và Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã R, tỉnh Đắk Lắk (trước đâ l Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ) vào ngày 14/9/2021 trên cơ sở tự nguyện v đã được cấp giấy đăng ký kết hôn theo qu định. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo xác minh tại địa phương v lời khai của bà T thì trong thời gian sống chung vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau, bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đo n tụ và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay nên trong năm 2025 bà T đã l m đơn l hôn với Nguyễn Văn H đã được Tòa án đình chỉ theo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 25 2025 QĐ T-HNGĐ ng 08 9 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Hoàng Thanh T và Nguyễn Văn H lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó xét êu cầu xin ly hôn của ngu ên đơn b Nguyễn Hoàng Thanh T l có căn cứ, phù hợp với khoản Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận. [2.2]. Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Hoàng Thanh T có nguyện vọng xin được nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 24/3/2022. Xét thấ hiện na cháu Nam còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậ HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 8 uật Hôn nhân v gia đình: Giao con chung là Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 24/3/2022 cho bà Ngu ễn Ho ng Thanh T nuôi dưỡng v chăm sóc l phù hợp với qu định của pháp luật. Ông Ngu ễn Văn H được qu ền đi lại thăm nom v chăm sóc con chung, bà T không được cản trở tu nhiên ông H không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gâ cản trở đến việc thăm nom chăm sóc nuôi dưỡng v giáo dục con chung; vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có qu ền êu cầu tha đổi việc nuôi con chung v cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau khi ly hôn. 5 - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu. Do đó HĐXX không đặt ra giải quyết. [2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình thu thập chứng cứ, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó HĐXX không đặt ra để giải quyết. [3] Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Thanh T phải chịu tiền án phí l hôn sơ thẩm theo qu định của pháp luật. [4] Xét ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn to n có căn cứ đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận toàn bộ ý kiến quan điểm của Viện kiểm sát. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ khoản Điều 28, điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản Điều 56 Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5
nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống,
không có tiếng nói chung trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái và vợ chồng
thường xuyên cãi nhau nên đến năm 2025 bà T đã l m đơn l hôn ông Hậu tại Tòa
án. Sau khi nộp đơn vì con chung nên bà T đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng tiếp
tục chung sống nuôi dạ con cái nhưng từ đó cho đến nay cuộc sống chung của vợ
chồng không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn. Do đó bà T xét thấy
cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mâu
thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm
2024 đến nay, mỗi người sống một nơi nên bà T l m đơn với nguyện vọng xin
được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông Hậu có 01 con
chung là Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 24/03/2022. Hiện nay cháu N còn nhỏ
cần sự chăm sóc của người mẹ nên bà T có nguyện vọng xin được nuôi cháu N cho
đến khi con chung đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con chung bà T không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án, thông
báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn H đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3
Điều 27. , tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Thanh T.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Hoàng Thanh T được ly hôn với Nguyễn
Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày
24/3/2022 cho bà Nguyễn Hoàng Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn H được quyền đi lại thăm nom con chung, bà T không được cản trở, tuy nhiên ông Hậu không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây cản trở đến việc thăm nom chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung; vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu tha đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau khi ly hôn. 6 - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu. Do đó HĐXX không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu. Do đó
HĐXX không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Thanh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm do b Dương Thị T đã nộp thay theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003173 ngày 23 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
5. Quyền kháng cáo: Ngu ên đơn v bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ng nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo qu định của pháp luật. Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu vực 7; - Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; -UBND xã R; - Lưu hồ sơ vụ án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Võ Thị Mai
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.