CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcBị đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1996; Nơi cư trú: thôn
tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho
anh được ly hôn chị Hoàng Thị L để sớm ổn định cuộc sống của bản thân.
Quá trình chung sống, vợ chồng anh không có con chung nên không yêu cầu
Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Anh B trình bày vợ chồng không
có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, biên bản hoà giải bị đơn chị Hoàng Thị L trình bày: Chị và
anh Lê Đình B có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện Đăng
ký kết hôn vào ngày 19/02/2024. Sau khi tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán
ở địa phương vì công việc hai vợ chồng chị phải ở cách xa nhau, anh B làm ở B Định
còn chị công tác ở Quảng B. Vì ở xa nên vợ chồng ít gặp nhau, mỗi năm gặp nhau
được 4 đến 5 lần, mỗi lần 2 đến 3 ngày. Chính vì ở xa nhau nên vợ chồng thường
xảy ra cải vã. Nguyên nhân là do chồng chị L hệ với người yêu củ và để ảnh người
yêu củ trong máy nên vợ chồng mới xảy ra cải vã. Nay anh B làm đơn xin ly hôn chị
nhận thấy vợ chồng vẫn còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng có thể khắc phục được
nên không đồng ý ly hôn.
Chị L cũng thống nhất trình bày quá trình chung sống vợ chồng không có con
chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng chị cũng nhất trí như trình bày của anh
B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện anh Lê Đình B đề nghị Tòa án nhân dân
Khu vực 1 giải quyết ly hôn đối với anh chị Hoàng Thị L, xác định quan hệ pháp
luật của vụ án là “Ly hôn”; chị L có nơi cư trú là thôn Tân Nẫm, xã B, tỉnh Quảng
Trị, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh
Quảng Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án chị Hoàng Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì
vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.