CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số: 59/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2026 và
không trả cho anh bất kỳ khoản tiền nào. Do đó, anh khởi kiện đến Tòa án nhân dân
khu vực 1- Cao Bằng yêu cầu ông G trả cho anh số tiền đã vay theo hợp đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Thẩm Lý G xác nhận số tiền
104.534.400đ (một trăm linh bốn triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm
đồng) trong hợp đồng vay tiền đã ký kết là số tiền ông vay của anh Đoàn Minh H.
Phương thức trả nợ là thanh toán một lần toàn bộ số tiền vay, không thỏa thuận về
lãi. Theo hợp đồng, thời hạn cho vay là 01 tháng kể từ ngày hợp đồng được công
chứng.
Tuy nhiên, hết thời hạn nêu trên, ông chưa thanh toán cho anh H như đã thỏa
thuận do có khó khăn về kinh tế. Ông G đề nghị hết tháng 5/2026, ông sẽ thanh
toán toàn bộ số tiền nợ trên cho anh H.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả số tiền
104.534.400đ (một trăm linh bốn triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm
đồng) theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Không chấp nhận thời hạn thanh toán
theo đề nghị của bị đơn.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện,
nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc ông Thẩm Lý G trả số tiền 104.534.400đ (một
trăm linh bốn triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm đồng) theo Hợp đồng
cho vay và vay tiền số 508/2024, quyển số 04/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
13/6/2024 tại Văn phòng công chứng N. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại tổ C1, phường
G, tỉnh Cao Bằng. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp là tranh
chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 1- Cao Bằng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ
luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự tham gia của Kiểm sát viên: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.