CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 12 năm 2025, những lời khai tiếp theo
2
phúc được khoảng 07 năm nhưng đến khoảng tháng 6/2024 thì mâu thuẫn bắt đầu
phát sinh và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được
tiếng nói chung và thường xuyên lớn tiếng cãi nhau về vấn đề kinh tế trong gia
đình, cụ thể: sau khi kết hôn chị T đi làm công ty còn anh L chỉ ở nhà làm nghề tự
do (mua bán xe máy, điện thoại, …) nhưng chị T hoàn toàn không biết thu nhập
thực tế của anh L, trong khi đó mỗi tháng chị T cũng có đưa thêm tiền để anh L
quán xuyến chi tiêu trong gia đình. Tuy nhiên, anh L thường hay tụ tập bạn bè đi
chơi, thậm chí gây nợ và nói chị T phụ giúp tiền chi trả nhưng khi chị T nói không
có thì vợ chồng lại lớn tiếng cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt mà
không thể hàn gắn được. Sau khi mâu thuẫn xảy ra, khoảng tháng 9/2024 anh L đã
tự ý bỏ về nhà cha mẹ đẻ của anh L ở xã G, tỉnh Đồng Nai sống cho đến nay, vợ
chồng có liên lạc với nhau qua điện thoại nhưng chỉ trao đổi về vấn đề con cái, vợ
chồng không nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn, thậm chí khi anh L
uống rượu còn gọi điện trách móc, xúc phạm chị T. Do cả hai đều đã trưởng thành
nên khi mâu thuẫn xảy ra cha mẹ hai bên gia đình không can thiệp cũng không
khuyên bảo hay hòa giải. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T
cũng không mong muốn hàn gắn tình cảm với anh L nên chị T yêu cầu Tòa án giải
quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có hai chung là cháu Nguyễn Thanh
S, sinh ngày 23/02/2014 và cháu Nguyễn Ngọc Phương T1, sinh ngày 17/6/2020,
hiện hai con chung đang sống cùng với chị T.
Theo đơn khởi kiện ban đầu, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai
con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 4.000.000đ (Bốn
triệu đồng) (tức 2.000.000 đồng/cháu/tháng). Tuy nhiên, ngày 18/3/2026 chị T có
đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chị T chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi
dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Ái T khai không có và không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn - anh Nguyễn Thanh L vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.