CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 07 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
2
2. Bà Hồ Tấn Bích T, sinh năm 1958 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: C L, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bà Hồ Tấn Bích T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 11/4/2022, Đơn khởi kiện bổ sung ngày
08/7/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà Hồ Thị Hồng L là
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Trước đây, ông Lê Đình P, bà Hồ Thị Ngọc C, quốc tịch: Hoa Kỳ, cư trú
tại địa chỉ: A D. Fort Worth, TX 76112, USA (Hoa Kỳ) có nhờ ông Hồ Ngọc
C1, bà Hồ Tấn Bích T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với
diện tích đất 5.588m2 thuộc thửa đất số 347, tờ bản đồ số 7A (nay là thửa đất số
131, tờ bản đồ số 19), toạ lạc tại địa chỉ: Ấp E, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Quá trình giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông P, bà C không tham
gia trực tiếp nhưng toàn bộ số tiền nhận chuyển nhượng 134.112.000 đồng, chi
phí làm thủ tục cấp giấy chứng nhận 11.760.000 đồng và tiền trồng cây trên đất
2.590.000 đồng đều do ông P, bà C gửi về cho ông C1, bà T. Ngày 04/5/2007,
UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 880039, số vào
sổ cấp GCN H 00348/QĐ275 (viết tắt là Giấy chứng nhận số H 00348) cho ông
C1, bà T. Các sự việc về việc nhờ nhận chuyển nhượng và đứng tên giùm trên
giấy chứng nhận đều được bà T xác nhận tại các giấy viết tay ngày 25/5/2007,
ngày 08/6/2007.
Vì có nhu cầu về Việt Nam sinh sống, ngày 07/01/2019, ông P, bà C có
liên hệ yêu cầu ông C1, bà T trả lại diện tích đất và được ông C1, bà T cam kết
hoàn trả lại. Sau đó, ông C1, bà T vẫn không thực hiện cam kết và đến nay
không liên hệ được.
Thực tế, ông C1, bà T chỉ là người đứng tên hộ cho ông P, bà C trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện trạng diện tích đất là đất trống, có trồng cây
tràm nên không cần thiết phải trông coi, quản lý và phần giá trị tăng thêm của
diện tích đất là do xu hướng phát triển của xã hội nên không có cơ sở xác định
công sức đóng góp của ông C1, bà T.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.