CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúctỉnh Lào Cai) ngày 11 tháng 11 năm 2013. Sau khi kết hôn, chị và anh B chung
2
xô xát, cãi cọ. Mâu thuẫn giữa chị và anh B hai bên gia đình nội ngoại đều biết, có
phân tích hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Nay chị N xác
định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh
Trương Văn B.
Về con chung: Chị Vi Thị N và anh Trương Văn B có 02 người con chung
Trương Thị Vi C, sinh ngày 15-12-2013 và Trương Minh H, sinh ngày 16-3-2023.
Ly hôn chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu C và nhất trí
để anh B trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu H. Không ai phải cấp dưỡng nuôi
con cho ai.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Trương
Văn B trình bày:
Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn quá trình chung sống của vợ chồng
như cô N đã trình bày là đúng. Về quan hệ hôn nhân: Tôi kết hôn với cô Vi Thị N
trước khi kết hôn có được tìm hiểu và tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân
xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái ngày 11-11-2013. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống
cùng nhau tại thôn A, xã A1, huyện V, tỉnh Yên Bái nay là thôn A, xã M, tỉnh Lào
Cai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn,
cô N có làm đơn khởi kiện xin ly hôn tôi ra Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái
vào đầu năm 2025 nhưng sau đó Tòa án hòa giải và cô N đã rút đơn khởi kiện để vợ
chồng đoàn tụ nhưng đến nay vợ chồng vẫn xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến
mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, tôi xác định tình
cảm vợ chồng vẫn còn và không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Tôi và cô N có 02 người con chung như cô N đã trình bày là
đúng. Ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu H, nhất
trí để cô N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu C và không ai phải cấp dưỡng
nuôi con chung cho ai.
Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.