CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 14 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
2
Bà Kiều Thị Thanh H và ông Nguyễn Minh Đ1 là vợ chồng, chưa làm thủ
tục ly hôn nhưng đã không sống chung nhà nhiều năm. Số tiền bà H cho vợ
chồng ông Nguyễn Minh Đ và bà Đoàn Thị N vay là tiền riêng của bà H. Cụ thể
các lần cho vợ chồng ông Đ, bà N vay tiền như sau:
Khoản vay ngày 17/7/2024: Nợ gốc là 170.000.000 đồng, nợ lãi là
16.932.000 đồng (170.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 12 tháng).
Khoản vay ngày 28/01/2025: Nợ gốc là 30.000.000 đồng, nợ lãi là
1.494.000 đồng (30.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 06 tháng).
Khoản vay ngày 15/3/2025: Nợ gốc là 30.000.000 đồng, nợ lãi là 996.000
đồng (30.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 04 tháng).
Tổng cộng tiền gốc là 230.000.000 đồng, tiền lãi là 19.422.000 đồng. Các
bên có lập giấy nợ đề ngày 17/7/2024, 28/01/2025, 15/3/2025 ông Đ, bà N có ký
tên ghi rõ họ tên xác nhận có mượn tiền của bà H. Bà H đã nhiều lần đòi nợ,
cũng đã gửi thông báo đòi nợ vào các ngày 13/8/2025, ngày 24/3/2026 cho vợ
chồng ông Đ, bà N nhưng ông Đ nhận thông báo mà không trả tiền cho bà H.
Do ông Đ, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên theo đơn khởi kiện đề
ngày 07/8/2025 bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu ông Nguyễn
Minh Đ và bà Đoàn Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Kiều Thị Thanh H số
tiền còn nợ tổng cộng là 249.422.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 230.000.000
đồng và tiền lãi là 19.422.000 đồng (lãi suất 0,83%/tháng).
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện
và xác định yêu cầu khởi kiện sau cùng như sau: Bà Kiều Thị Thanh H chỉ yêu
cầu ông Nguyễn Minh Đ và bà Đoàn Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số
tiền vốn vay là 230.000.000 đồng. Bà H không yêu cầu vợ chồng ông Đ, bà N
trả tiền lãi.
Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.
Bà H có yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của ông
Đ, bà N trên giấy nợ đề ngày 17/7/2024, 28/01/2025, 15/3/2025 và đồng ý nộp
chi phí giám định. Tuy nhiên, bà không cung cấp được tài liệu so sánh do bà chỉ
giao dịch với ông Đ, bà N qua giấy nợ đề ngày 17/7/2024, 28/01/2025,
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.