CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khởi kiện đến ngày 17 tháng 3 năm 2026 và các lời khai tiếp theo
2024, không ai còn quan tâm đến nhau. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không
còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Văn D.
Về con chung: Chị N và anh D có 01 con chung là: Bàn Thị Thanh T, sinh ngày
02-5-2020. Hiện con chung đang ở với bố. Ly hôn chị N có yêu cầu để anh D trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị N không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 27-3-2026, anh Bàn Văn D trình bày về quan hệ hôn nhân,
sống chung đúng như chị Lý Thị N trình bày, quá trình vợ chồng chung có phát sinh
mâu thuẫn nguyên nhân do không có tiếng nói chung, tính tình không hợp. Vợ chồng
đã ly thân từ tháng 7-2024. Chị N đề nghị ly hôn, anh D đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Bàn Thị Thanh T, sinh ngày 02-5-2020, hiện con chung đang ở với
anh D. Ly hôn anh D có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung,
anh D không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Anh
Dũng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do tính chất công việc rất bận không thể đi
lại được nên anh D có đơn đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt anh.
Tại đơn xin xác nhận ngày 26-3-2026 của chị Lý Thị N, trưởng Thôn Tầm
Vông, xã T và UBND xã T xác nhận về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn và con
chung giữa chị N và anh D đúng như chị N trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp
luật của vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo đơn khởi kiện của chị Lý Thị
N. Do bị đơn anh Bàn Văn D có hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã T, tỉnh Lào Cai.
Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1
Điều 28. , 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai
có thẩm quyền giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh D có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị N, anh Bàn Văn D kết hôn ngày 14-10- 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai). Việc kết hôn tuân thủ đúng các quy định tại Điều 8, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, qua lời khai của chị N, trong quá trình chung sống chị N, anh D phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Anh Dũng công nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do không có tiếng nói chung, tính tình không hợp. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2024. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng chị N, anh D có xảy ra mâu thuẫn là đúng thực tế, phù hợp với lời khai của anh D và xác nhận của trưởng thôn Thôn T, xã T và UBND xã T, tỉnh Lào Cai. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị N, anh D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị N được ly hôn với anh Bàn Văn D. [3] Về con chung: Chị N, anh D có 01 con chung là Bàn Thị Thanh T, sinh ngày 02-5-2020. Hiện con chung đang ở với anh D. Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu của chị N là để anh D trực tiếp nuôi con là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Dũng cũng có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cũng như không ảnh hưởng đến tâm lý của con chung, căn cứ vào quy định của các Điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị N, giao con chung Bàn Thị Thanh T cho anh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp. Về cấp dưỡng: Chị N và anh D đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chị N không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. [4] Về tài sản chung và công nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về án phí: Chị Lý Thị N, anh Bàn Văn D phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. [6] Quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị N được ly hôn với anh Bàn Văn D. 2- Về con chung: Giao cháu Bàn Thị Thanh T, sinh ngày 02-5-2020 cho anh Bàn Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật; chị Lý Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. 3- Về án phí: - Chị Lý Thị N phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: 00000940 ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Chị N được hoàn trả lại 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Chị N đã nộp đủ án phí. - Anh Bàn Văn D phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. 4- Về quyền kháng cáo: Chị Lý Thị N và anh Bàn Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai. 5- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./. Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 2 – Lào Cai; - Phòng THADS khu vực 2-Lào Cai; - UBND xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai; - Các đương sự; - Lưu HS,T.A,THS. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đỗ Quỳnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đỗ Quỳnh Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 2 – Lào Cai; - Phòng THADS khu vực 2-Lào Cai; - UBND xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai; - Các đương sự; - Lưu HS,T.A,THS. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đỗ Quỳnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đỗ Quỳnh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.