cáo Đặng Thái D4 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ
thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời
gian thử thách.
1.12. Đối với Dương Tuấn D5: Căn Cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều
124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo
Dương Tuấn D5 09 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng
án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong
thời gian thử thách.
1.13. Đối với Nguyễn Hữu Đ: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều
124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo
Nguyễn Hữu Đ 09 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong
thời gian thử thách.
1.14. Đối với Thân Đức T3: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều
124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo
Thân Đức T3 09 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong
thời gian thử thách.
-- 28 of 30 --
29
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c
khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 con dao lưỡi bằng kim loại, lắp ốp nhựa màu đen thu của bị cáo D2.
- 01 con dao kim loại sáng màu, chuôi dao bằng kim loại, lưỡi dao có chữ
“Lan Gui Ren thu của anh Nguyễn Hoàng P3.
- 01 thanh kiếm, màu trắng bạc hình trụ, có tổng chiều dài 74cm, đường
kính 3cm, lưỡi kiếm được xoáy gen vào trong vỏ kiếm bằng kim loại hình trụ,
lưỡi kiếm có một lưỡi, đầu nhọn, dài 49cm, chuôi dao dài 21cm thu của bị cáo
M.
- 01 bình xịt hơi cay, nhãn hiệu American style Nato super - Paralisant,
dung tích 110ml thu của bị cáo N.
* Trả lại:
- Bị cáo Thân Văn H5: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu
xám, ốp lưng màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo Đào Dương Bá D2: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ
màu tím, gắn số thuê bao 0983.627.407 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo Thân Đức T3: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max,
vỏ màu đen, gắn số thuê bao 0347.937.845 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành
án.
- Bị cáo Dương Tuấn D5: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, vỏ
màu trắng, gắn số thuê bao 09234.33567 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo Nguyễn Hữu Đ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max,
vỏ màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án nhưng tạm giữ để đảm bảo
thi hành án.
- Bị cáo Cao Minh H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu
trắng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo Đặng Thái D4 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu
vàng hồng, mặt trước và lưng đã bị nứt, vỡ.
- Anh Dương Quốc H14 01 chiếc xe mô tô Honda Wave không gắn BKS
(đăng ký BKS 99AA-354.56) và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung A24,
vỏ màu đen, gắn số thuê bao 0817.939.959
- Anh Nguyễn Hoàng P3 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs, vỏ màu vàng
nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Anh Dương Thế N3 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max, vỏ màu đen,
gắn số thuê bao 0961.511.348 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Xe mô tô BKS 98AA-447.20 cho bà Dương Thị L (mẹ bị cáo D2)
- Xe mô tô BKS 99AA-354.07 cho bà Vũ Thị H10 (mẹ bị cáo Đ).
- Xe mô tô BKS 98AK-062.08 cho bà Bạch Thị M4 (mẹ của anh Nguyễn
Thanh T16).
- Xe mô tô BKS 98AK-056.61 cho ông Cao Minh K (bố bị cáo H).
-- 29 of 30 --
30
- Xe mô tô tô BKS 98B3-935.52 cho bà Giáp Thị L4 (mẹ bị cáo L3).
- Xe mô tô BKS 98AG-056.76 cho bà Nguyễn Thị P (mẹ của S).
- Xe mô tô BKS 98H1-303.15 cho bà Phạm Thị Hoài T22 (mẹ bị cáo M).
- Xe mô tô BKS 98AK-056.72 cho ông Đặng Xuân T2 (bố bị cáo D4).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23
Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016:
Các bị cáo Dương Tuấn D5, Nguyễn Hữu Đ, Thân Đức T3, Phạm Đăng D , Đào
Dương Bá D2, Trần Đình N, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Đình S, Giáp Văn M,
Thân Văn H5, Nguyễn Văn L3, Cao Minh H, Đỗ Đình Minh K1, Đặng Thái D4,
mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có
mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa c ho bị cáo, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và