Mục lục - 3 điều ▼
Điều 28. , Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; thủ tục thụ lý vụ án và thông
báo về việc thụ lý vụ án đúng quy định tại các Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Tòa án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều
97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự
và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng đúng theo Điều 68 Bộ luật Tố
tụng dân sự; về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
-- 2 of 7 --
3
trong việc thu thập chứng cứ, xác minh và công khai chứng cứ cũng như hòa giải.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa và của người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án; những người tham gia tố tụng đã
thực hiện quyền, nghĩa vụ và chấp hành nội quy phiên tòa do Bộ luật Tố tụng dân
sự quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Theo lời trình bày của bà H thì quá trình chung sống bà H và ông T thường
xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày. Bà
H và ông T đã ly thân từ tháng 01/2026 đến nay. Xét thấy, cả hai đều không còn
tình cảm với nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T. Ông T không đồng ý ly hôn
nhưng lại không đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng và
ông T cũng không tham gia phiên tòa, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà H và
ông T là có thật, ông T đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân với bà H và
không có ý muốn hàn gắn cuộc hôn nhân này nên yêu cầu ly hôn của bà H là có
căn cứ để chấp nhận.
Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Trần Yến V sinh ngày
13/6/2010 và Trần Quốc B sinh ngày 09/8/2018, hiện 02 con đang sống chung với
bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 cháu V và B và
không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T vắng mặt tại phiên tòa và không
có ý kiến gì. Xét thấy, 02 cháu V và B hiện đang sống cùng bà H nên để ổn định
tâm tư, tình cảm của các cháu thì cần tiếp tục để bà H nuôi dưỡng, chăm sóc các
cháu. Mặc khác, cháu V sinh này 13/6/2010 và cháu B sinh ngày 09/8/2018, tính
đến thời điểm xét xử 02 cháu đã hơn 07 tuổi nên cần xem xét nguyện vọng của 02
cháu theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014. Tại Bản tự khai ngày 14/01/2026, cả 02 cháu V và B đều có nguyện vọng
được sống với mẹ. Nguyện vọng của 02 cháu phù hợp với yêu cầu của bà H nên
có căn cứ để chấp nhận, giao 02 cháu V và B cho bà H nuôi dưỡng. Bà H không
yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông T xác định không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, Điều
35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều
51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
-- 3 of 7 --
4
Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly
hôn với ông Trần Quốc T. Do đó, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh
chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Tây Ninh theo quy định tại
Điều 28. , điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện nên được
xác định là nguyên đơn; ông Trần Quốc T là người bị kiện nên được xác định là
bị đơn.
[3] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H có
mặt tại phiên tòa. Bị đơn ông Trần Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai nhưng vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H, thấy rằng:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Trần Quốc T xác
lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 108
do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 13/10/2009 nên hôn
nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà H trình bày cho rằng sau khi cưới vợ chồng chung sống thời gian đầu
thì hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên
cãi vã. Trong suốt thời gian chung sống ông T có đánh bà H 3 – 4 lần, mỗi lần
đánh là đuổi bà H ra khỏi nhà. Vợ chồng bà đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng
không thành nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông T thừa nhận trong suốt quá
trình chung sống vợ chồng nhiều lần cãi vả, ông T có đánh đuổi bà H ra khỏi nhà
3 – 4 lần, nguyên nhân chủ yếu do ông T nghi ngờ bà H có quan hệ tình cảm với
người đàn ông khác. Ông T không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải
pháp để vợ chồng hàn gắn tình cảm, bản thân ông T thừa nhận đã thiếu kiềm chế
cảm xúc nên có hành vi bạo lực gia đình.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Toà án cũng đã cho bà H và ông T thời gian
đoàn tụ nhưng bà H và ông T vẫn không giải quyết được mâu thuẫn trong đời
sống vợ chồng. Tại phiên tòa, bà H kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông T. Nhận
thấy, việc đoàn tụ giữa các đương sự không có kết quả, hôn nhân đã không còn
hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, một trong hai bên đã không còn mong
muốn vun đắp cuộc sống chung của vợ chồng. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa
bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
-- 4 of 7 --
5
[4.2] Về nuôi con chung: Bà H và ông T xác định ông bà có 02 con chung
tên Trần Yến V, sinh ngày 13/6/2010 và Trần Quốc B, sinh ngày 09/8/2018. Hiện
tại, bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Trong quá trình giải quyết vụ
án, bà H và ông T thống nhất trường hợp vợ chồng ly hôn thì bà H được quyền
tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, ông T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
cho con. Hơn nữa, tại bản tự khai ngày 14/01/2026, cháu V và cháu B trình bày
nguyện vọng được sống chung với bà H sau khi cha mẹ ly hôn.
Xét sự tự nguyện của bà H và ông T, nguyện vọng của cháu V và cháu B là
phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử giao cháu V và cháu B
cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con và được
quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông T xác định không tranh chấp
về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
Từ những phân tích trên thấy rằng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có
căn cứ nên được chấp nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tham
gia phiên tòa.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều
6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147. , Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều
84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu
vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân khu vực;
Căn cứ Điều 6, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu
H về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” đối với ông Trần Quốc T.
-- 5 of 7 --
6
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Trần
Quốc T.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu H được quyền trực tiếp trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung có tên là Trần Yến V, sinh ngày
13/6/2010 và Trần Quốc B, sinh ngày 09/8/2018. Ông Trần Quốc T không phải
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không
ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản
trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi
con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha,
mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người
không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con.
Vì lợi ích của con chung, khi có căn cứ thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức
theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi
người trực tiếp nuôi con; khi có căn cứ thì cha, mẹ có quyền yêu cầu cấp dưỡng
nuôi con theo quy định.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Trần Quốc T
không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp
là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001324
ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Thu H
đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Án xét xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự có
mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản
sao án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-- 6 of 7 --
7
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND Khu vực 5 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS Khu vực 5 - Tây Ninh;
- UBND xã Phước Lý, tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy An
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Đặng Văn Bé – Đinh Ngọc Minh
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy An
-- 7 of 7 --