CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúclý số: 69/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026 về việc “Tranh chấp
2
không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi
yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là Danh C.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi không có con chung nên tôi
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản
chung và không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với chồng tôi là Danh C.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi không có con chung nên tôi
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm
gì.
Tại bản tự khai đề ngày 10/02/2025 bị đơn ông Danh C trình bày: Tôi và
vợ tôi không có tìm hiểu nhau trước mà do mai mối nên đến năm 1999 chúng tôi
được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân
tự nguyện và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc đến năm 2012 thì vợ chồng tôi
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tôi sống không
hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xảy ra mâu thuẫn vả
và chúng tôi đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân
không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi
đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ tôi là Thị Bích T.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi không có con chung nên tôi
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản
chung và không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ tôi là Thị Bích T.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung như trình bày trên tôi không có
kiến thêm gì.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.