CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc601/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp yêu cầu
2
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi không có 01 người con
chung tên Bùi Nhật T - sinh ngày 12/11/1998, hiện nay con đã trưởng thành nên
tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có thiếu nợ ai nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với vợ tôi là Trần Thị G.
Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 01 người con chung tên Bùi Nhật
T - sinh ngày 12/11/1998, hiện nay con đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm
gì.
Tại bản tự khai đề ngày 20/3/2026 bị đơn bà Trần Thị G trình bày: Tôi và
chồng tôi không có tìm hiểu nhau trước mà do mai mối nên đến năm 1996 chúng
tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, hôn nhân
tự nguyện và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc đến năm 1999 thì vợ chồng tôi
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tôi bất đồng quan
điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung nên chúng tôi đã ly thân từ năm
1999 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa,
vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi đồng ý ly hôn theo yêu cầu của
chồng tôi là Bùi Hoàng N.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 01 người con chung tên
Bùi Nhật T - sinh ngày 12/11/1998, hiện nay con đã trưởng thành nên tôi không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có thiếu nợ ai nên không yêu
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.