“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 02 đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị các chất ma túy
bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến
chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến
tình hình trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân làm gia
tăng các tệ nạn xã hội khác như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản, giết người... Bị
cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy và
sử dụng trái phép chất ma túy khi biết mình đang trong thời hạn điều trị các chất
ma túy bằng thuốc thay thế Methadone. Việc đưa Nguyễn Văn H ra truy tố và xét
xử về 02 tội trên là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho
xã hội.
[4] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết
tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo là đối tượng
nghiện ma túy, có 01 tiền án năm 2021 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị
cáo có nhân thân rất xấu: các năm 1997, 1999 bị xét xử đều về các tội “Tổ chức
dùng chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không
lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà đã cố tình thực
hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên
cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo,
buộc cách ly xã hội một thời gian để giúp bị cáo tự cải tạo, giáo dục mình thành
người có í ch cho xã hội.
-- 7 of 11 --
8
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể
hiện thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật
hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy,
không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội
đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của Trần Văn P. Đến nay, P
đã chết, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đình chỉ điều tra đối với
Trần Văn P là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ của Trần Văn P, P khai mua của một
người đàn ông tên là V ở khu vực phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (cũ).
Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không có cơ sở để làm rõ.
[7] Vật chứng vụ án:
- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo và đối tượng Trần Văn P còn lại
sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu
hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói; 01 kéo bằng kim loại, chuôi
bằng nhựa màu vàng, 01 dao lam bằng kim loại và 01 bật lửa gas màu cam, đen,
bạc, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử
dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411,
có số máy là JA70E-0757664. Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H là tài sản
chung của vợ chồng bị cáo. Bà Vũ Thị H3 là vợ của bị cáo không biết bị cáo dùng
vào việc đi mua ma túy và tại phiên tòa có ý kiến xin lại xe, nên xét thấy cần trả
cho bà H3 quản lý, sử dụng là phù hợp.
- Đối với số tiền 2.195.000 đồng thu giữ của Trần Văn P là số tiền không
rõ nguồn gốc, bà Nguyễn Thị C khai có liên quan đến ma túy và không yêu cầu
gì, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án
theo quy định của pháp luật.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo
và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm
s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình
-- 8 of 11 --
9
sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày
25/6/2025); Điều 106; Điều 136; Điều 299, Điều 329; Điều 331 và Điều 333 Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng
trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt
chung của hai tội là 06 (sáu) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi năm ngày) để đảm bảo thi hành
án.
2. Về vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,357 gam mẫu
A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.
- 01(một) bì thư ký hiệu A2, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu A và vỏ
gói.
- 11 (mười một) mảnh giấy bạc, được niêm phong trong phong bì ký hiệu
B4.
- 01 (một) kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu vàng, được niêm phong
trong phong bì ký hiệu B5.
- 01 (một) dao lam bằng kim loại, được niêm phong trong bì thư ký hiệu
B6.
- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu C1, bên trong có chứa 0,464 gam mẫu
C1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C1.
- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu C2, bên trong có chứa 0,066 gam mẫu
C2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C2.
- 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu C3, bên trong có chứa 0,841 gam mẫu
C3 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C3.
- 01 (một) bì thư ký hiệu H1, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B1, vỏ
gói và 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu xanh.
- 01 (một) bì thư ký hiệu H2, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B2, vỏ
gói và 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu vàng, trắng, xanh.
- 01 (một) bì thư ký hiệu H3, bên trong có chứa vỏ bì thư ký hiệu B2 và vỏ
túi.
-- 9 of 11 --
10
- 01 (một) bật lửa gas màu cam, đen, bạc, trên thân có in chữ "BẬT LỬA
AN TOÀN THỐNG NHẤT ...Khởi nguồn may mắn" , cũ, đã qua sử dụng
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.195.000 đồng (Hai
triệu một trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
2.3. Trả lại cho bà Vũ Thị H3 quản lý, sử dụng: 01 xe mô tô nhãn hiệu
HONDA, số loại: JA393 WAVE, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm
soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411, có số máy là JA70E-
0757664, đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận số 144 ngày 23/3/2026 giữa
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự khu vực
1 - Thái Nguyên; Ủy nhiệm chi số chứng từ 55 ngày 13/3/2026 số tiền 2.195.000
đồng (Hai triệu một trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày
kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 1 - Thái Nguyên;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 1 - TN;
- Cơ quan THAHS - Công an tỉnh TN;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an
tỉnh TN;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trường Giang
-- 10 of 11 --
11
-- 11 of 11 --