CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcDS ngày 12 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
2
* Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, quá trình tiến hành tố tụng tại Tòa
án chị Nguyễn Thị T trình bày: Do chị và vợ chồng anh Nguyễn Thế N, chị
Nguyễn Thị H có quan hệ quen biết nên ngày 28/10/2021 chị có cho vợ chồng
anh Nguyễn Thế N vay số tiền 691.000.000 đồng. Khi vay anh Nguyễn Thế N
có tự tay viết giấy biên nhận vay tiền cho chị, cụ thể là Biên nhận vay tiền ngày
28 tháng 10 năm 2021. Theo giấy vay tiền anh N có vay của chị số tiền
691.000.000 đồng, mục đích vay là để đảo sổ ngân hàng, thời hạn vay là 30
ngày, vay không thỏa thuận lãi suất. Sau khi anh N viết giấy biên nhận tiền trên
xong thì chị đã giao cho vợ chồng anh N đủ số tiền 691.000.000 đồng, vợ chồng
anh N đã kiểm đếm đủ số tiền này và anh N đã ký và ghi rõ họ tên của anh N tại
phần “Người vay” của giấy vay tiền. Chị khẳng định trên giấy vay tiền là toàn
bộ chữ viết và chữ ký của anh N. Khi vay tiền, có cả hai vợ chồng anh N, chị H
ở đó nhưng chỉ có mình anh Nhật ký T1 vào giấy biên nhận vay tiền thôi.
Từ khi đến thời hạn trả tiền, chị đã đòi vợ chồng anh N rất nhiều lần tiền
nhưng anh N đều khất nợ và chưa trả cho chị được bất cứ đồng nào. Số tiền chị
cho anh N vay là tiền cá nhân của chị, không liên quan đến ai khác vì chị đã ly
hôn. Theo yêu cầu khởi kiện ban đầu, chị có yêu cầu Tòa án buộc cả hai vợ
chồng anh Nguyễn Thế N và chị Nguyễn Thị H phải trả cho chị toàn bộ số tiền
nợ trên vì lúc đó vợ chồng anh chị nói lý do vay là để đảo sổ ngân hàng nên chị
xác định đó là khoản nợ chung của cả hai vợ chồng anh N, chị H. Nhưng tại
phiên họp công khai chứng cứ chị thay đổi, chị chỉ yêu cầu một mình anh
Nguyễn Thế N phải trả chị số tiền nợ gốc đã vay ngày 28/10/2021 là
691.000.000 đồng, không yêu cầu chị H phải trả số tiền trên cùng anh N nữa.
Chị không yêu cầu anh T phải trả chị tiền lãi suất. Ngoài ra, chị T không có yêu
cầu khởi kiện nào khác.
Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu
cung cấp chứng cứ, Thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ, Thông
báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
cho anh N và chị H nhiều lần nhưng anh N và chị H không đến Tòa án làm việc,
không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.