Mục lục - 4 điều ▼
Điều 38. ; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
năm 2025, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm
tù;
+ áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 38. ; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
năm 2025, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng
tù;
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Các bị cáo Tô Văn Út C, Trần Văn N, Vũ Minh L đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, các bị cáo không có
ý kiến tranh luận, bào chữa gì đối với hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nói
lời sau cùng rất hối hận về hành vi của mình đã gây ra, tỏ thái độ ăn năn hối cải
và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm tái hòa
nhập cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an
thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H), Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức (nay là Viện kiểm sát nhân dân
Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Tô Văn Út C, Trần Văn N và Vũ Minh L
phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã
thu thập được, có căn cứ xác định:
Vào ngày 08/4/2025, tại bãi đất trống bên cạnh quán cà phê địa chỉ nhà
không số, Hẻm B, Võ Văn H2, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố
-- 5 of 8 --
6
Hồ Chí Minh (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), Tô Văn Út C đã có
hành vi cùng cung cấp ma túy, N có hành vi giúp sức mua ma túy và dụng cụ sử
dụng ma túy để cùng sử dụng chung với Vũ Minh L. L có hành vi hơ nóng ma
túy giúp sức cho C sử dụng.
Ngoài ra, C và L còn sử dụng ma túy cùng nhau 02 lần vào tháng 5/2024 và
ngày 05/4/2025, tại phòng trọ của L, địa chỉ số B Làng T, Khu phố D, phường T,
thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh). L là người cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, C
là người cung cấp ma túy.
Ngày 07/4/2025, C và N còn sử dụng ma túy cùng nhau 01 lần tại quán cà
phê, địa chỉ nhà không số, Hẻm B, Võ Văn H2, Khu phố C, phường L, thành
phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). C
là người cung cấp ma túy, N là người cung cấp dụng cụ sử dụng trái phép chất
ma túy.
Hành vi của các bị cáo Tô Văn Út C, Trần Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội
“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều
255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Hành vi của bị cáo Vũ Minh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng
trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do tính chất đặc
biệt của chất ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tội phạm
về ma túy có thể dẫn đến phát sinh các loại tội phạm khác. Nhà nước ta cũng
như cả thế giới đều ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, mọi hành vi trái
pháp luật liên quan đến ma túy đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc nếu có
vi phạm. Vì động cơ thỏa mãn cơn nghiện, các bị cáo đã thực hiện nhiều hành vi
phạm tội liên quan đến ma túy như tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy. Việc các bị cáo cùng nhau bàn bạc, thống nhất mua ma túy và
thực hiện hành vi sử dụng công cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho
nhiều người đã thể hiện các bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật của Nhà
nước. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với
hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo, răn đe đối
với các bị cáo và phòng ngừa chung, đặc biệt là tội phạm về ma túy.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và
tại phiên tòa các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên
Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo
theo quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội với tình
tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” nhưng đã áp dụng định khung hình phạt đối với
các bị cáo nên các bị cáo không có tình tiết tăng nặng đươc quy định tại Điều 52
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025. Riêng bị cáo
-- 6 of 8 --
7
Tô Văn Út C có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa
án tích mà tiếp tục phạm tội nên thuộc tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định
tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017, năm 2025.
[5] Về xử lý vật chứng:
+ 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu 247 có nắp màu xanh, trên nắp có gắn 01
ống hút nhựa; 01 gói niêm phong ghi vụ 1652/25, bên trong chứa mẫu vật còn
lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A9, màu trắng, gắn sim số
0932108907 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno
12F, màu xanh, gắn sim số 0767167976 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di
động hiệu Redmi, màu đen, gắn sim số 0909470213 (đã qua sử dụng); Hội đồng
xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
+ 01 (một); điện thoại di động hiệu Samsung A50, màu xanh, không gắn
sim (đã qua sử dụng) (thu giữ của Tô Văn Út C), xét thấy không liên quan đến
vụ án nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Tô Văn Út C.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố các bị cáo Tô Văn Út C, Trần Văn N và Vũ Minh L phạm tội
“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h
Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo Tô Văn Út C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày 28/4/2025.
3. Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 38. ; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
28/4/2025.
4. Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 38. ; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
năm 2025.
Xử phạt bị cáo Vũ Minh L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính
từ ngày 28/4/2025.
5. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ: 1652/26. Bên trong
-- 7 of 8 --
8
chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 (một) bộ dụng
cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu 247 có nắp màu xanh,
trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO
A9, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno
12F, màu xanh, gắn sim số 0767167976 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di
động hiệu Redmi, màu đen, gắn sim số 0909470213 (đã qua sử dụng);
- Trả lại cho bị cáo Tô Văn Ú Cảnh 01 (một) điện thoại di động hiệu
Samsung A50, màu xanh, không gắn sim (đã qua sử dụng);
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số 196BB2/26 ngày 22/12/2025 của
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh)
6. Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án. Các bị cáo Tô Văn Út C, Trần Văn N, Vũ Minh L mỗi bị cáo phải nộp
200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các bị
cáo Tô Văn Út C, Trần Văn N, Vũ Minh L có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉ T XỬ SƠ THẨM
- TAND TP . HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. HCM;
- VKSND KV2 - TP . HCM;
- Cơ quan CSĐT Công an TP . HCM;
- Phân trại tạm giam Cát Lái -
Trại tạm giam Bố Lá - Công an TP . HCM;
- Cơ quan THA.HS Công an TP. HCM;
- THADS TP . HCM;
- Sở Tư pháp TP . HCM;
- Bị cáo; người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ, VT. Trần Quốc Lưu
-- 8 of 8 --