CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc116/2026/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2026 về việc: “Tranh chấp ly hôn và
2
chung và bất đồng nhiều vấn đề trong cuộc sống. Mâu thuẫn không hòa giải được
nên chị L bỏ đi, từ đó anh chị cũng sống ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy tình
cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không hạnh phúc nên anh Võ Hồng T yêu
cầu được ly hôn với chị Võ Thị Chúc L.
- Về con chung: Anh Võ Hồng T và chị L có với nhau hai người con chung
tên Võ Thiên T1, sinh ngày 19/02/2012 và Võ Thị Khánh V, sinh ngày
03/11/2017. Hiện cháu T1 đang sống cùng chị L, còn cháu V thì sống cùng anh T.
Ly hôn anh yêu cầu được nuôi cháu V đến tuổi trưởng thành và đồng ý giao cháu
T1 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, các bên không cần phải cấp dưỡng nuôi con
chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Võ Hồng T xác định anh và chị L
không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải
quyết.
* Tại bản tự khai ngày 09/3/2026 bị đơn chị Võ Thị Chúc L trình bày: Chị
Võ Thị Chúc L và anh Võ Hồng T cưới nhau là do tự yêu thương, tìm hiểu và được
gia đình 2 bên tổ chức đám cưới vào năm 2011. Sau đó có đăng ký kết tại UBND
xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 07/11/2011. Thời gian đầu vợ chồng
chung sống hạnh phúc và sinh được 02 người con chung. Tuy nhiên hơn 3 năm nay
giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do không có tiếng nói chung và bất đồng
nhiều vấn đề trong cuộc sống. Mâu thuẫn không hòa giải được nên chị L mang
theo con bỏ đi làm và sống ly thân với anh T cho đến nay, nay anh T yêu cầu được
ly hôn với chị L thì chị cũng đồng ý. Chị L và anh T có hai người con chung tên
Võ Thiên T1, sinh ngày 19/02/2012 và Võ Thị Khánh V, sinh ngày 03/11/2017.
Hiện cháu T1 đang sống cùng chị L, còn cháu V thì sống cùng anh T. Ly hôn chị L
đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và đồng ý giao cháu V cho anh T nuôi dưỡng
để các con ổn định cuộc sống và tâm lý. Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con
chung.
Ngoài ra chúng tôi cũng không có tài sản chung hoặc nợ ai nên không yêu
cầu Tòa án xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.