Số: 048191003395
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđịnh hoãn phiên tòa số: 50/2026/QĐST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2026, giữa các
Lê Thị Hồng H trình bày:
Bà Lê Thị Hồng H và bà Trương Thị L có quen biết nhau, chị em chơi với nhau
thân thiết, khi bà L gặp khó khăn về kinh tế nên ngày 30/8/2019 (ÂL), bà L hỏi
mượn của bà H số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), tiếp đó đến ngày
15/9/2019 bà L ngỏ lời mượn của bà H và bà H đã cho bà L mượn số tiền
100.000.000đ (một trăm triệu đồng), bà L viết giấy mượn tiền hẹn trong vòng 3
2
tháng sau sẽ trả tiền lại cho bà Hà tất C số tiền đã mượn. Đến thời hạn trả tiền nhưng
bà L không trả, bà H đã liên hệ với bà L yêu cầu trả nợ nhưng bà L không trả và hứa
hẹn sẽ trả cho bà H nhưng sau đó bà L lẩn tránh và cắt đứt liên lạc với bà H. Do vậy
bà H làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, yêu cầu buộc bà Trương Thị L trả lại cho bà
số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi được tính từ ngày chậm trả ngày
01/11/2019 đến ngày 31/3/2025 với lãi suất 10%/năm số tiền lãi là 108.328.767
đồng, và tiếp tục tính lãi cho đến khi kết thúc vụ án. Tại phiên toà hôm nay, bà Lê
Thị Hồng H sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, bà xác định chỉ yêu cầu bà Trương
Thị L phải trả số tiền đã mượn là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) và không tính
lãi.
* Bị đơn là bà Trương Thị L mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng bà L vẫn vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ T trình bày tại bản tự khai
ghi ngày 20/01/2026 và tại phiên toà hôm nay.
Tổng số tiền bà Lê Thị Hồng H cho bà Trương Thị L vay mượn là 200.000.000
đồng, đây là tiền riêng của vợ là bà H. Nay bà Lê Thị Hồng H khởi kiện thì đề nghị
Toà án buộc bà Trương Thị L phải trả cho bà H theo quy định; ông T không liên
quan gì đến khoản tiền của bà H cho bà L vay mượn.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng
phát biểu:
* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án cho thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.