CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcra xét xử số 69/2026/QĐXX-ST ngày 09 tháng 03 năm 2026, Quyết định hoãn
2
thôn M, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn M, xã T, tỉnh Bắc Ninh). Vợ
chồng chung sống ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng này sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu
thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi
vã, đánh nhau, vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Tuy hai bên đã được hòa
giải, họ hàng hai bên cũng đã khuyên bảo nhưng không thành. Hai vợ chồng ly
thân từ năm 2024 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu
thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh
Nguyễn Văn L.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là Nguyễn Văn
T1, sinh ngày 31/8/2008 và Nguyễn Văn P, sinh ngày 16/5/2013. Nay ly hôn,
chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con
chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn L: Anh Nguyễn Văn L có hộ khẩu thường trú
tại thôn M, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Mỹ P1, xã T, tỉnh Bắc Ninh),
đã được Tòa án thông báo, tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng
quy định của pháp luật, nhưng anh Nguyễn Văn L không đến Tòa án làm việc,
không có ý kiến, quan điểm và chứng cứ cung cấp, giao nộp cho Toà án để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn L vẫn
vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Bắc Ninh tham gia phiên tòa
xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm
phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng
xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các
đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không
chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; các Điều 28, 35, 39,
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.