CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 08 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải
2002; địa chỉ: Số A L, phường L, thành phố Hà Nội.
2
Chị T, anh T1, bà T2, bà H, ông L, bà H1 đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh
Trần Văn T1 quen biết nhau trong thời gian anh T1 làm việc tại Đài Loan. Sau đó,
anh chị về Việt Nam và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 18/12/2013 tại
Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, thành phố Hải
Phòng). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh T1. Do kinh tế gia
đình khó khăn, anh T1 tiếp tục trở lại Đài Loan làm việc, chị vẫn sống cùng gia
đình anh T1, thu xếp công việc gia đình, chăm sóc con cái để anh T1 yên tâm làm
việc. Năm 2018, anh T1 về Việt Nam thăm gia đình. Năm 2019, anh T1 tiếp tục
sang Đài Loan làm việc cho đến nay. Do áp lực cuộc sống, vợ chồng sống xa nhau
nên luôn nảy sinh bất đồng trong quan điểm sống, chăm sóc con cái, chi tiêu sinh
hoạt, vì vậy, vợ chồng xảy ra tranh cãi, xung đột thường xuyên. Năm 2020, do
không thể chịu được cuộc sống như vậy nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Tổ dân
phố H, phường D, tỉnh Ninh Bình sống cho đến nay. Vợ chồng sống ly thân và
không còn quan tâm, liên lạc và nói chuyện, chia sẻ tình cảm với nhau. Nay chị
xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được, chị đề nghị Tòa
án giải quyết cho chị ly hôn anh T1. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là
Trần Hải A, sinh ngày 24/9/2014 và Trần Nguyễn Hoàng A1, sinh ngày
08/11/2020. Hiện tại, cháu Hải A đang sống cùng bố mẹ đẻ anh T1, cháu Hoàng
A1 sống cùng chị. Khi ly hôn chị đề nghị giao cháu Hải A cho anh T1 nuôi dưỡng,
giao cháu Hoàng A1 cho chị nuôi dưỡng. Khi anh T1 chưa về Việt Nam đề nghị
giao cháu Hoàng A1 cho bà Đào Thị T2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu
anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản
tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật nhưng bị đơn không đến Tòa án làm
việc và không gửi văn bản nêu ý kiến quan điểm đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Thông qua bà T2 là mẹ đẻ anh T1 có quan điểm: Anh đã được mẹ đẻ anh là bà T2
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.