Mục lục - 3 điều ▼
Điều 39. của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung. Căn cứ
khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn
và tranh chấp nuôi con”.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chấp hành
đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các
quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
-- 3 of 6 --
4
- Về việc vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng cho chị H, anh D2, chị H có đơn xin vắng mặt còn anh D2 vắng mặt lần thứ
hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2
Điều 227. , Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H,
anh D2.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bị đơn không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến của mình đối với yêu cầu
của nguyên đơn. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải
quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:Chị H, anh D2 có đăng ký kết hôn
ngày 16/10/2020 tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã Y,
tỉnh Bắc Ninh). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của
Luật hôn nhân gia đình.
Qua lời khai của chị H, lời khai của bà L (mẹ đẻ anh D2), kết quả xác
minh tại chính quyền địa phương có căn cứ khẳng định: Vợ chồng chị H, anh D2
xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng đi làm ăn xa, kinh tế khó khăn nên thường xuyên
cãi nhau, chửi nhau. Đến đầu năm 2025, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng,
chị H về nhà ngoại sinh sống và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Chị H xác
định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị
H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D2. Có căn cứ để xác định
vợ chồng chị H, anh D2 không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
là phải yêu thương, tôn trọng và chung sống cùng nhau theo quy định tại Điều 19
Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa
chị H, anh D2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị H được ly hôn với anh D2 là phù
hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu xin nuôi con chung của nguyên đơn: Lời khai của chị H, bà L
(mẹ anh D2) về con chung là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Có
căn cứ để xác định vợ chồng chị H, anh D2 có 2 con chung là 02 cháu Nguyễn
Anh D1, sinh ngày 24/10/2020 và cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 01/9/2023.
Hiện 02 cháu đang ở cùng với anh D2. Sau khi ly hôn, chị H, anh D2 đều đồng ý
để anh D2 trực tiếp nuôi cả 02 con chung, chị Hôn cấp nuôi con chung với mức
2.500.000 đồng/cháu/tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử thấy
rằng: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo sự ổn định trong cuộc
sống, sinh hoạt, học tập, cần giữ nguyên việc nuôi con như hiện tại và phù hợp
với nguyện vọng của các đương sự cần giao cho anh Nguyễn Trung D được trực
tiếp nuôi 02 con chung là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về
cấp dưỡng nuôi con chung: xét thấy chị H đưa ra mức yêu cầu cấp dưỡng,
phương thức cấp dưỡng và thời hạn cấp dưỡng là phù hợp với thu nhập, khả
-- 4 of 6 --
5
năng thực tế của chị và phù hợp với nhu cầu thiết yếu của cháu D1, cháu Bảo A
và phía bên gia đình anh D thống nhất đồng ý. Mặt khác, khi ly hôn cha mẹ vẫn
phải có nghĩa vụ với con chưa thành niên, người không trực tiếp phải có nghĩa vụ
cấp dưỡng nuôi con chung nên cần buộc chị H cấp dưỡng nuôi con chung
2.500.000 đồng /cháu/tháng kể từ tháng 05/2026 đến khi đủ 18 tuổi, thời gian
cấp dưỡng hàng tháng là phù hợp với quy định tại điều Điều 82, Điều 83, Điều
116, Điều 117; Điều 118; Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chị Nông Thị Hoàng H chịu
tiền án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo
quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 92,
Điều 273. của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều
81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Luật hôn
nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị Hoàng H được ly hôn anh Nguyễn
Trung D.
2. Về nuôi con: Giao cho anh Nguyễn Trung D trực tiếp nuôi con chung là
cháu Nguyễn Anh D1, sinh ngày 24/10/2020 và cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày
01/9/2023.
Chị Nông Thị Hoàng H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Anh D1 và cháu
Nguyễn Bảo A với mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn
đồng)/cháu/tháng kể từ tháng 5/2026 đến khi đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng
hàng tháng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được
cản trở họ thực hiện quyền này.
3. Về tiền án phí: Chị Nông Thị Hoàng H phải chịu 600.000 đồng án phí
(trong đó 300.000 đồng tiền án ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng
-- 5 of 6 --
6
nuôi con chung), nhưng trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tại biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001083 ngày 30 tháng 01 năm 2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh thu. Chị Nông Thị Hoàng H còn phải chịu
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm
yết bản án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND Khu vực 3 – Bắc Ninh;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
- UBND xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án tối cao;
- Lưu HS.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Hồng Thảo
-- 6 of 6 --