CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchôn nhân và gia đình thụ lý số 122/2026/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026 về
Ngày 01/12/2025, anh D bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Lục Nam sinh sống, vợ chồng
cắt đứt quan hệ từ đó. Xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải
quyết cho ly hôn anh D.
2
- Về con chung, tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có, không đề nghị
Toà án giải quyết.
Chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Anh Đỗ Đức D là bị đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị A có đăng ký kết hôn tại UBND
xã Lục Nam, tỉnh Bắc Ninh vào tháng 11/2015. Trước khi kết hôn hai bên có được tự
do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau. Vợ chồng chung sống đến tháng 12/2025 thì phát
sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm
sống. Hiện tại hai vợ chồng sống ly thân. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên
chị A xin ly hôn anh không đồng ý, đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng đoàn tụ.
- Về con chung, tài sản và công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải
quyết.
Vì điều kiện công việc, anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện VKSND Khu vực 4 tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải
quyết vụ án và của HĐXX tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của BLTTDS.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xử cho chị A ly hôn anh D.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo
cho các đương sự.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là
tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy
định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.