CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 20 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải
Dương (nay là phường N, thành phố Hải Phòng). Sau khi kết hôn vợ chồng chung
sống cùng nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh Q ở Tổ dân phố B, phường N, thành phố Hải
2
Phòng. Năm 2021, bố mẹ chồng cho vợ chồng chị xây nhà và ra ở riêng trên đất
của bố mẹ chồng. Quá trình chung sống anh Q thường hay có lời lẽ coi thường,
xúc phạm, chửi bới, đánh chị. Bố mẹ chồng ở gần nhưng không quan tâm khuyên
giải mà còn chửi mắng chị. Chị nhiều lần muốn ly hôn nhưng thương con còn nhỏ
nên lại thôi. Năm 2023, anh Q đi Đài Loan lao động nhưng không liên lạc với chị
mà chỉ gọi điện nói chuyện với con và mẹ chồng. Thông qua mẹ chồng và con chị
được biết là anh Q đã trốn ra ngoài lao động bất hợp pháp. Hiện nay, cả gia đình
không biết địa chỉ cụ thể của anh Q ở đâu. Nay vợ chồng đã sống ly thân, không
quan tâm đến nhau, không còn tình cảm nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn với anh Q. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị C,
sinh ngày 14/9/2011 và Trần Văn T, sinh ngày 12/8/2009. Hiện tại, cả 02 con đều
đang ở với chị. Khi ly hôn chị cũng muốn nuôi con nhưng do hiện tại chị kinh tế
khó khăn, sau khi ly hôn không có nơi ở ổn định, không có khả năng nuôi 02 con.
Anh Q cũng có thông tin về là có nguyện vọng xin nuôi cả hai con và nhờ mẹ là bà
Phạm Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con trong thời gian anh Q ở nước ngoài;
cả 02 con của chị cũng có nguyện vọng muốn ở với anh Q. Do vậy, chị đề nghị
Tòa án giải quyết giao cho anh Q nuôi dưỡng cả 02 con Trần Thị C và Trần Văn T
đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh
Q. Trong thời gian anh Q ở nước ngoài, chị đồng ý để bà L nuôi dưỡng, trông nom,
chăm sóc các con thay anh Q. Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản
tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật nhưng bị đơn không đến Tòa án làm
việc và không gửi văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu của nguyên đơn.
- Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai cháu Trần Văn T và Trần Thị C đều
trình bày xác định nguyện vọng muốn được ở với bố.
- Bà Phạm Thị L - mẹ đẻ của anh Q trình bày: Sau khi kết hôn, anh Q, chị H
sống cùng gia đình bà ở phường N, được khoảng 1 năm thì ra ở riêng. Quá trình
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.