CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 08 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
ông Võ Văn Đ vay số tiền 100.000.000đ (mộ t trăm triệu đồng), thỏ a thuậ n lãi
2
7.000.000đ (bảy triệu đồng)/tháng, từ thời điểm vay đến nay thì ông Đ chưa trả
lãi. Khi vay các bên có lậ p biên nhậ n viết tay, người viết là ông T, nơi lậ p biên
nhậ n là nhà ông T ở C. Hai bên giao nhậ n tiền tại nhà ông T, lúc giao nhậ n tiền
chỉ có ông T và ông Đ, không có ai khác chứng kiến. Biên nhậ n chỉ lậ p 01 (mộ t)
bản, ông T là người giữ biên nhậ n. Phần trên "BÊN A (BÊN CHO VAY)" không
ghi nộ i dung nhưng "BÊN B (BÊN VAY)" thì ghi đầy đủ nhân thân, địa chỉ của
ông Đ, nộ i dung vay cũ ng được ghi đầy đủ. Ông Đ sau khi nhậ n tiền thì ký tên
trướ c vào biên nhậ n, khi ông Đ về thì ông T mớ i lấy viết ký và ghi họ tên vào sau,
do nghĩ ông Đ đã ký nhậ n nợ rồi. Ông T nhiều lần liên hệ ông Đ thu hồi nợ nhưng
không được, nay ông T yêu cầu ông Đ trả số tiền gốc 100.000.000đ (mộ t trăm
triệu đồng) và lãi theo quy định pháp luậ t 20%/năm từ ngày 18/11/2021 cho đến
thời điểm xét xử.
Ông Võ Văn Đ trình bày: Ngày 21/10/2025, ông T và mộ t người khác (không
rõ nhân thân, địa chỉ) thẩy đồ dơ trướ c cửa nhà ông Đ và xác định không có vay
tiền của ông T nhưng ông Đ thừ a nhậ n chữ ký trong biên nhậ n ngày 18/12/2021
là của ông Đ ký và viết họ tên, tuy nhiên bên cho vay thì không có chữ ký của ông
T, phần ghi tên bên cho vay cũ ng không ghi tên ông T, chỉ khi khởi kiện thì ông
T mớ i ký tên vào sau. Về nộ i dung trong biên nhậ n thì ông không biết ai là người
viết, việc ông T cho rằ ng chữ viết trong nộ i dung biên nhậ n là của ông T thì ông
không có ý kiến. Ông không chấp nhậ n toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Ngoài ra Biên bản lời khai ngày 12/01/2026 thì ông Đ còn xác định biên nhậ n này
là vay của mộ t người khác, không phải ông T nhưng đến Biên bản lấy lời khai
ngày 13/02/2026 thì ông Đ thay đổi lời khai, xác định không vay của ai khác mà
do bản thân làm não (viết nháp), ký tên vào, sau đó thất lạc lúc đám cướ i con ruộ t
vào ngày 10/10/2025.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 19/3/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 15 – An Giang đã xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều
147, Điều 217, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463,
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.