- Ngày ban hành: 24/02/2023
1
ÁN LỆ SỐ 57/2023/AL1
Về hành vi gian dối nhằm tiếp cận tài sản trong tội “Cướp giật tài sản”
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày
01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA
ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Bản án hình sự phúc thẩm số 590/2020/HS-PT ngà y 18/12/2020 củ a Toà án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh v ề vụ án “Cướp giật tài sản” đố i vớ i bị cáo
Nguyễn Thành Quốc B.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 4 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để người quản lý tài sản chuyển giao tài sản
cho bị cáo, sau đó lợi dụng sơ hở để nhanh chóng tẩu thoát.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp
giật tài sản”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Điều 171 Bộ luật Hình sự nă m 2015 (sử a đổ i, bổ sung nă m 2017).
Từ khoá của án lệ:
“Cướp giật tài sản”; “Thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thành Quốc B nảy sinh ý định cướp
giật tài sản. B mua số sim điện thoại khuyến mãi rồi tạo tài khoản trên ứng dụng
bán hàng trực tuyến qua mạng, đặt mua loại điện thoại Iphone 11. Để thực hiện
hành vi phạm tội, B còn ch uẩn bị một số xấp tiền (mỗi xấp tiền B để một tờ tiền
thật phía trên, một tờ tiền thật phía dưới (mệnh giá từ 50.000 đồng đến 500.000
đồng, ở giữa xấp tiền thì B để tiền âm phủ và được cột lại bằng dây thun). Khi
đến gặp người giao hàng để nhận hàng, B sẽ lấy những xấp tiền được chuẩn bị từ
trong túi sách đeo chéo ra để cho người giao hàng thấy, tạo lòng tin cho người
giao hàng rồi cất lại vào trong túi. Sau khi kiểm tra hàng xong, B sẽ để gói hàng
xuống ba ga xe của xe gắn máy Lead BS: 59L1 -88433, rồi lấy xấp tiền do B chuẩn
bị từ trong túi ra đưa cho người giao hàng. Lợi dụng sơ hở khi người giao hàng
1 Án lệ này do PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa, TS. Nguyễn Thị Ánh Hồng - Trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh và Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất.
-- 1 of 8 --
2
tháo dây thun kiểm tiền thì B tăng ga điều khiển xe bỏ chạy để chiếm đoạt điện
thoại di động.
Kết quả điều tra xác định Nguyễn Thành Quốc B thực hiện 05 vụ c hiếm đoạt
tài sản cụ thể như sau:
Vụ 1: Đầu tháng 01/2020, Nguyễn Thành Quốc B sử dụng thuê bao số
0563667801 để đăng ký một tài khoản mua hàng trên trang thương mại điện tử L
với tên là Trần Thanh T 1 và đặt mua một điện thoại di động Apple Iphone 11,
màu tím, dung lượng 128GB với giá 22.017.700 đồng (Hai mươi hai triệu không
trăm mười bảy nghìn bảy trăm đồng) địa chỉ giao nhận hàng là tại số 158/A49
đường P, phường H, quận T, Tp. Hồ Chí Minh.
Khoảng 16 giờ ngày 11/01/2020, B nhận được điện thoại của anh Phạm Ngọc
T (là nhân viên giao hàng của Công ty S) có nhiệm vụ đi giao đơn hàng mã số
S60RT0000206084VN bên trong là 01 (một) điện thoại di động Apple Iphone 11,
128GB, màu tím, IMEI: 356571101877587. B điều khiển xe máy Honda Lead
BS: 59L1-88433 chạy đến địa chỉ trên để chờ anh T. Sau khi anh T đến, B yêu
cầu anh T cho kiểm tra gói hàng trước nhưng anh T không đồng ý. Sau đó, B nói
với anh T đứng đợi một lát để đi đón xe tải chở hàng cho gia đình rồi qu ay lại.
Khoảng 03 phút sau, B quay lại và đồng ý nhận gói hàng, anh T đưa gói hàng cho
B đồng thời B đưa một bọc nylon chứa tiền bên trong (B sắp xếp 02 tờ tiền thật
có mệnh giá 200.000 đồng đặt ở mặt trên và mặt dưới, ở giữa là tiền âm phủ) đã
chuẩn bị từ trước cho anh T để kiểm tra. Xấp tiền này B đã mua từ trước. B dùng
dây thun buộc xấp tiền, dùng túi nylon cuộn xung quanh và dùng băng keo trắng
quấn nhiều lớp phía ngoài xấp tiền. Khi anh T đang mở túi nylon để lấy tiền ra
kiểm tra thì B mở khóa xe rồi giả vờ nói chạy ra đầu hẻm xem xe tải chở hàng đã
đến chưa. Anh T chưa kịp phản ứng gì thì B nhanh chóng điều khiển xe gắn máy
tẩu thoát.
Vào tối cùng ngày, B rao bán điện thoại di động vừa chiếm đoạt được trên
mạng Internet và để lại số điện thoại 0938355 534 để người mua liên lạc. Khoảng
02 ngày sau có một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua điện thoại trên với
giá 18.000.000 đồng, B đồng ý và hẹn gặp người này tại trước cổng Công viên Đ,
phường A, quận M để giao điện thoại. Đối với sim thuê bao 0563 667801, B đã
vứt bỏ trên đường (không rõ địa chỉ). Số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 941/KL -HĐĐGTS-TTHS ngày
27/05/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T ân Phú xác định
01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11, 128GB, màu tím, IMEI:
356571101877587 trị giá 22.310.000 đồng.
Vụ 2: Ngày 20/01/2020, Nguyễn Thành Quốc B sử dụng điện thoại Redmi
lên trang mạng của T.com đặt mua 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro
Max, 256GB, màu Gold, giá tiền 37.990.000 đồng. B cung cấp thông tin người
mua hàng tên Hoàng Anh T2, số điện thoại liên hệ 0563667873 và nơi giao hàng
tại số 04 đường L, phường N, quận T. Đến khoảng 13h30 ngày 21/01/2020, anh
Nguyễn Lê Thanh D (là nhân viên giao hàng công ty cổ phầ n T) mang theo 01
(một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 256GB, màu Gold, IMEI:
-- 2 of 8 --
3
353923106182211 lấy từ cửa hàng đến giao hàng cho B tại số 04 đường L, phường
N, quận T và thu tiền 37.990.000 đồng. Khi đến địa điểm giao hàng, anh D gặp B
điều khiển xe Lead BS: 59L1-88433 tại trước số 4 đường L, phường N, quận T
thì B nói anh D đẩy xe qua địa chỉ số 07 đường L, phường N, quận T để giao nhận
hàng, B lấy lý do tránh đường cho xe tải vào nhà. Tại trước nhà số 07 đường L,
phường N, quận T, D đưa cho B 01 (một) hộp điện thoại di động Iphone 11 Pro
Max, 256GB , Gold, IMEI: 353923106182211, còn nguyên seal đồng thời B đưa
cho D 01 (một) xấp tiền mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam (gồm 150 tờ) nói D đếm
lại. Lúc này, B để hộp điện thoại xuống dưới sàn để chân phía trước của xe Lead,
đồng thời mở khóa xe. Lợi dụng lúc D đang đếm tiền không để ý, B nhanh chóng
tăng ga xe điều khiển xe bỏ chạy thoát. D chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp nên
đã lên Công an phường Phú Thạnh trình báo sự việc.
B mang điện thoại bán lại cho anh Lưu Thành N (là chủ cửa hàng điện thoại
N số 31/15 đường U, phường G, quận T) được số tiền 31.500.000 đồng. Do không
có tiền mặt nên N dùng tài khoản ngân hàng V số: 0721000616605 chuyển số tiền
này vào tài khoản ngân hàng C của B số 10236697. Số tiền này B đã tiêu xài cá
nhân hết.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 763/KL -HĐĐGTS-TTHS ngày
29/04/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T ân Phú xác định: 01
(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 256GB trị giá 37.990.000 đồng.
Vụ 3: Ngày 28/01/2020, B sử dụng điện thoại Redmi lên trang mạng
C.com.vn để đặt mua 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max,
256GB, giá tiền 34.990.00 0 đồng. B cung cấp thông tin người nhận hàng tên
Hoàng Anh T2, số điện thoại liên hệ: 0563667873, địa chỉ giao hàng tại trước nhà
số 04 đường L, phường N, quận T.
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 29/01/2020, anh Trần Anh T 3 (là nhân viên cửa
hàng điện thoại C) đ ến địa điểm giao hàng số 04 đường L, phường N, quận T gặp
B và đưa cho B kiểm tra 01 (một) hộp điện thoại Iphone 11 Pro Max, 256GB, màu
xanh, số IMEI: 353923106193341, còn nguyên seal. B kiểm tra hộp điện thoại và
có hỏi T3 cách sử dụng điện thoại, tình tr ạng của điện thoại. Sau đó, B lấy lý do
là tránh đường cho xe tải vào nhà nên nói T 3 cùng di chuyển sang bên đường để
giao dịch. B để hộp điện thoại xuống dưới sàn để chân phía trước của xe Lead,
mở khóa xe, ngồi trên xe dùng chân đẩy xe còn T3 dắt bộ xe đến trước địa chỉ số
07 đường L, phường N, quận T để giao dịch. Tại đây, B lấy trong túi xách đeo
chéo ra 01 (một) xấp tiền mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam (gồm 50 tờ do B chuẩn
bị từ trước) đưa cho T 3 nói T3 kiểm tra lại tiền. Khi T 3 đang đếm tiền thì B lấy
trong túi xách ra xấp tiền do B chuẩn bị trước đó (phía trên để 01 (một) tờ tiền
mệnh giá 500.000 đồng Việt Nam, ở giữa để 100 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng
tiền âm phủ, phía dưới để 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng Việt Nam) ném
về phía của T 3 rồi nhanh chóng nổ máy xe tăng ga bỏ chạy. T 3 đuổi theo nhưng
không kịp nên đã đến Công an phường Phú Thạnh trình báo sự việc.
Sau đó, B mang điện thoại chiếm đoạt được đến cửa hàng điện thoại N số
31/15 đường U, phường G, quận T bán lại cho anh Lưu Thành N với giá
-- 3 of 8 --
4
31.000.000 đồng. Do không có tiền mặt nên N dùng tài khoản ngân hàng V số:
0721000616605 chuyển số tiền này vào tài khoản ngân hàng C của B số
10236697. Số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận đị nh giá tài sản số 763/KL -HĐĐGTS-TTHS ngày
29/04/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T ân Phú xác định 01
(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 256GB trị giá 34.990.000 đồng.
Vụ 4: Ngày 29/01/2020, B sử dụng điện thoại Redmi đăng nhập vào ứng
dụng mua bán hàng qua mạng K để đặt mua 01 (một) điện thoại di động hiệu
Iphone 11 Pro Max, 256GB, giá tiền 35.990.000 đồng. B cung cấp thông tin người
nhận hàng tên To Hoang G, số điện thoại liên hệ: 0563667801, địa chỉ giao hàng
46 đường T, phường E, quận T.
Khoảng 14 giờ ngày 30/01/2020, anh Trần Huệ C đến kho hàng của công ty
K nhận đơn hàng 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 256GB, Gold,
số IMEI: 353909101879836 giao cho khách tên To Hoang G thu tiền theo đơn
hàng 35.990.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì anh C đến địa chỉ giao
hàng số 46 đường T, phường E, quận T. Anh C điện thoại vào số 0563667801 thì
gặp B, thông báo giao hàng theo đơn đặt hàng tên To Hoang G. Lúc này, B nói
anh C thay đổi địa điểm giao hàng đến số 86 đường M, phường E, quận T (do B
thấy tại số 46 đường T, phường E, quận T đường đông người). Sau đó anh C đến
trước số 86 đường M, phường E, quận T thì B điều khiển xe gắn máy Lead BS:
59L1-88433 đến. Tại đây, anh C đưa cho B kiểm tra gói hàng mà B đặt t rước đó
của công ty K. B tháo gói hàng ra thì thấy bên trong có 01 (một) hộp điện thoại
Iphone nguyên seal, đúng với thông tin B đặt hàng. Sau khi kiểm tra xong B xác
nhận với anh C đúng là sản phẩm B đặt, nhưng B nói là không đủ tiền và kêu anh
C đứng đợi để B đi rút thêm tiền đồng thời B đưa hộp điện thoại lại cho anh C. B
điều khiển xe đi được 5 phút thì quay trở lại. B ngồi trên xe Lead, dừng phía trước
đầu xe của anh C nên anh C mang gói hàng đến cho B kiểm tra thêm lần nữa xác
nhận đúng sản phẩm. B bỏ hộp điện thoại vào trong túi nylon màu vàng được treo
ở móc treo phía trước xe. B mở túi xách đeo chéo vai lấy ra 02 (hai) xấp tiền mà
B chuẩn bị từ trước 01 xấp tiền gồm 27 tờ mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam; 01
xấp tiền gồm: 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng Việt Nam phía trên, ở giữa là tiền âm
phủ, ở dưới cùng để tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. B đưa cho anh C x ấp tiền
mệnh giá 50.000 đồng nói anh C đếm lại. Trong lúc anh C đang đếm tiền không
để ý, B nhanh chóng mở khóa xe nổ máy điều khiển xe bỏ chạy ra hướng đường
H tẩu thoát. Anh C đuổi theo nhưng không kịp nên đã đến Công an phường Hiệp
Tân trình báo.
Sau đó, B mang điện thoại vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại N số
31/15 đường U, phường G, quận T bán cho chị Lê Hoàng L, (là nhân viên của cửa
hàng) với giá là 31.000.000 đồng. Do không đủ tiền mặt nên chị L sử dụng tài
khoản ngân hàng T số 190210027600 19 chuyển số tiền 26.000.000 đồng vào tài
khoản ngân hàng T của B số 19033815560015 và đưa cho B thêm 5.000.000 đồng
tiền mặt. Số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết.
-- 4 of 8 --
5
Tại bản kết luận định giá tài sản số 763/KL -HĐĐGTS-TTHS ngày
30/01/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T ân Phú xác định 01
(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 256GB trị giá 35.990.000 đồng.
Vụ 5: Khoảng 16 giờ 00 ngày 04/02/2020, B sử dụng điện thoại Redmi đăng
nhập vào ứng dụng bán hàng qua mạng L và đăng ký mua 01 (một) điện thoại di
động hiệu Iphone 11 Pro max, màu xanh, dung lượng 512Gb với giá tiền là
44.001.000 đồng. B cung cấp thông tin người mua hàng tên Tô Hoàng G, số điện
thoại liên hệ 0563667873 và nơi giao hàng tại số 04 đường L, phường N, quận T.
Đến khoảng 8 giờ ngày 05/02/2020, anh Trần Thế V (nhân viên giao hàng)
đến công ty X nhận 01 (một) gói hàng (số đơn hàng LRT0002895925, tên hàng
hóa Apple Iphone 11 Pro Max, kèm sạc nhanh 18W), tiền thu hộ là 44.001.000
đồng giao cho khách hàng Tô Hoàng G, số điện thoại liên hệ 0563667873 và nơi
giao hàng tại số 04 đường L, phường N, quận T. Anh V điện thoại liên lạc số
0563667873 thì gặp B và thông báo cho B biết sẽ giao hàng trong buổi sáng, B
đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, V điện thoại ch o B nói đã đến địa
điểm giao hàng, B nói anh V đứng đợi. B điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Lead
biển số 59L1 -88433 đến trước số 07 đường L, phường N, quận T thì gặp V đang
đứng đợi. Lúc này, B lấy trong túi xách ra 02 (hai) xấp tiền chuẩn bị từ trước
(trong đó 01 (một) xấp tiền để 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng phía trên,
ở giữa để tiền âm phủ, ở dưới cùng để 01 (một) tờ mệnh giá 100.000 đồng; xấp
tiền còn lại là tiền thật có nhiều mệnh giá từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng) B
lấy từ trong túi xách đeo chéo vai ra cầm trên tay rồi bỏ lại vào trong túi xách mục
đích cho anh V thấy, tạo lòng tin cho anh V. Sau đó, anh V lấy 01 (một) gói hàng
(số đơn hàng LRT0002895925, tên hàng hóa Apple Iphone 11 Pro Max, kèm sạc
nhanh 18W) đưa cho B và đề nghị phải th anh toán tiền trước khi kiểm tra hàng. B
không đồng ý và yêu cầu phải được kiểm tra hàng trước mới đưa tiền nên anh V
điện thoại về công ty xin ý kiến. Lợi dụng lúc V không để ý, B để gói hàng xuống
dưới sàn để chân phía trước của xe gắn máy Lead đồng thời mở khóa xe và nói
với anh V để đẩy xe vào lề rồi tiếp tục giao dịch. B ngồi trên xe đẩy xe lên phía
trước rồi bất ngờ tăng ga điều khiển xe tẩu thoát. Anh V tri hô và chạy bộ đuổi
theo nhưng không kịp. B điều khiển xe qua nhiều tuyến đường, khi đến đối di ện
số nhà 1446 đường S, phường A, quận T thì B dừng xe lại xé bỏ bao bì giao hàng
của công ty L. B thấy bên trong là 01 (một) hộp điện thoại Iphone 11 Pro Max
trên hộp điện thoại có ghi thông tin MWHR2VN/A; Iphone 11 Pro Max, Midnight
Green, 512 Gb, seri No: FK1ZJ1G5N715; IMEI: 35392525102781896 còn
nguyên seal niêm phong FPT.
B mang điện thoại vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại N số 31/15
đường U, phường G, quận T để bán. Chị Lê Hoàng L, (là nhân viên của cửa hàng)
đồng ý mua điện thoại với giá tiề n là 33.500.000 đồng. Do không đủ tiền mặt nên
L sử dụng tài khoản ngân hàng T số 19021002760019 chuyển số tiền 33.500.000
đồng vào tài khoản ngân hàng T của B số 19033815560015. B đã giao nộp số tiền
này cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ân Phú.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 763/KL -HĐĐGTS-TTHS ngày
29/04/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T ân Phú xác định
-- 5 of 8 --
6
01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu xanh, dung lượng 512Gb trị
giá 43.990.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2020/HS -ST ngày 27 tháng 8 năm 2020
của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản
1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Quốc B phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Quốc B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 06/02/2020.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo của bị cáo và những ngườ i tham gia tố tụng khác.
Ngày 25/9/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh có Kháng nghị phúc thẩm số 46/QĐ -VKS-P7 kháng nghị bản án sơ thẩm
nêu trên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Quốc B về tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực
hiện xét thấy giữa bị cáo B và các bị hại đã tiến hành giao tiền, nhận tài sản sau
khi bị cáo dùng thủ đoạn gian dối nêu trên làm cho các bị hại nhầm tưởng số tiền
B giao là tiền thật để mua điện thoại di động và bị hại tin tưởng nên đã giao hàng
để bị cáo c hiếm đoạt tổng trị giá tài sản 175.270.000 đồng. Mặt khác, bị cáo thực
hiện liên tiếp 05 vụ chiếm đoạt tài sản, không nghề nghiệp và dùng tiền có được
từ việc bán tài sản chiếm đoạt làm nguồn sống chính là trường hợp phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp. Do đó, đề nghị chấp nhận Kháng nghị phúc thẩm số
46/QĐ-VKS-P7 ngày 25/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Quốc B về
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật
Hình sự với mức hình phạt như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
Bị cáo không tự bào chữa và không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng:
Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các t à i liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[2] Kháng nghị phúc thẩm số 46/QĐ -VKS-P7 ngày 25/9/2020 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh làm trong thời hạn luật
định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm.
[3] Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Thành Quốc B tại phiên tòa phúc
thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Từ
khoảng đầu tháng 01/2020 đến ngày 04/02/2020, Nguyễ n Thành Quốc B đã có
hành vi sử dụng sim khuyến mãi tạo tài khoản trên các ứng dụng bán hàng trực
-- 6 of 8 --
7
tuyến, đặt mua các sản phẩm điện thoại có giá trị cao nhằm chiếm đoạt bán lấy
tiền tiêu xài cá nhân. Để tiếp cận được tài sản, bị cáo chuẩn bị các xấp tiền mệ nh
giá từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng nhưng mỗi xấp chỉ để 02 tờ tiền thật ở mặt
trên và mặt dưới, còn ở giữa là tiền âm phủ và dùng dây thun cột lại để khi giao
nhận hàng, B sẽ lấy những xấp tiền được chuẩn bị trước cho người giao hàng
thấy nhằm tạo niề m tin. Sau khi nhận và kiểm tra hàng, B lấy xấp tiền đã chuẩn
bị trước đó đưa cho các bị hại, lợi dụng sơ hở khi bị hại tháo dây thun kiểm, đếm
tiền thì B tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản. Bằng thủ đoạn nêu trên bị
cáo đã chiếm đoạt tài sản củ a 05 bị hại, trị giá tài sản chiếm đoạt qua định giá là
175.270.000 đồng.
[4] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 46/QĐ -VKS-P7 ngày
25/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội
đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Thành Q uốc B có thủ đoạn gian dối là để
các bị hại thấy bị cáo có tiền, nhằm tạo niềm tin để tiếp cận tài sản. Thời điểm bị
cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên đang thực hiện hành vi giao
hàng - nhận tiền, việc chuyển giao tài sản giữa các bị hại và bị cáo chưa hoàn
thành, bị cáo chưa ký nhận vào chứng từ giao hàng, tài sản vẫn trong tầm quản lý
của các bị hại thì bị cáo đã tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản. Do đó,
hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Quốc B đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” .
Bản án sơ thẩm số 111/2020/HSST ngày 27 /8/2020 của Tòa án nhân dân quận
Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình
sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Quốc B
là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Tuy nhiên, xét bị cáo Nguyễn Thành Quốc B là người không có nghề
nghiệp, thực hiện liên tiếp 05 vụ “Cướp giật tài sản”, số tiền hưởng lợi từ hành vi
phạm tội được bị cáo sử dụng làm nguồn sống chính nên thuộc trường hợp “Phạm
tội có tính chất chuyên nghiệp”, việc Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết
này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo B là thiếu sót. Do đó, Hội đồng xét xử
cấp phúc thẩm chấp nhận một phần nội dung Kháng nghị 46/QĐ -VKS-P7 ngày
25/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về
việc áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối
với bị cáo B. Về tình tiết “dùng thủ đoạn nguy hiểm”, xét tại thời điểm b ị cáo thực
hiện hành vi chiếm đoạt, bị hại đã tạm giao tài sản cho bị cáo quản lý, sau đó bị
cáo mới tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát nên không thuộc trường hợp “dùng thủ
đoạn nguy hiểm” để cướp giật tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm
không áp dụ ng điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi,
bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo B.
[6] Về mức hình phạt 06 (năm) tù về tội “Cướp giật tài sản” mà Tòa án cấp
sơ thẩm tuyên phạt là phù hợp với tính chất, mức độ hàn h vi và hậu quả tội phạm
mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét giữ nguyên mức
hình phạt đã tuyên.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-- 7 of 8 --
8
[8] Bị cáo Nguyễn Thành Quốc B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 345; điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự :
Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 46/QĐ -VKS-P7 ngày
25/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và
sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản
1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Quốc B 06 (sáu) năm tù về tội “Cướp giật
tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2020.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .
Bị cáo Nguyễn Thành Quốc B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
NỘI DUNG ÁN LỆ:
“[4] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 46/QĐ-VKS-P7 ngày
25/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội
đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Thành Quốc B có thủ đoạn gian dối là để
các bị hại thấy bị cáo có tiền, nhằm tạo niềm tin để tiếp cận tài sản. Thời điểm bị
cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên đang thực hiện hành vi giao
hàng - nhận tiền, việc chuyển giao tài sản giữa các bị hại và bị cáo chưa hoàn
thành, bị cáo chưa ký nhận vào chứng từ giao hàng, tài sản vẫn trong tầm quản
lý của các bị hại thì bị cáo đã tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản. Do
đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Quốc B đã phạm vào tội “Cướp giật tài
sản”. Bản án sơ thẩm số 111/2020/HSST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân
quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng khoản 2 Điều 171 của Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành
Quốc B là có căn cứ, đúng pháp luật.”
-- 8 of 8 --
Văn bản hành chính địa phương057/2023Ban hành: 24/02/2023Còn hiệu lực
Văn bản 057/2023 (2023)
🌐 Tên văn bản theo 7 thứ tiếng (bản dịch máy, tham khảo)
- EnglishDocument 057/2023 — Vietnam (2023)
- 中文文件 057/2023 — 越南 (2023)
- 日本語文書 057/2023 — ベトナム (2023)
- 한국어문서 057/2023 — 베트남 (2023)
- FrançaisDocument 057/2023 — Vietnam (2023)
- РусскийДокумент 057/2023 — Вьетнам (2023)
- EspañolDocumento 057/2023 — Vietnam (2023)
⚠ Tiêu đề chi tiết chưa được trích xuất
Tiêu đề chi tiết của Văn bản hành chính địa phương chưa được trích xuất từ nguồn - tải PDF để xem nội dung vụ việc cụ thể.
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.