CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcvụ án ra xét xử số: 25/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026, giữa
Lữ Phú Đ, sinh năm 1999 và Lữ Ngọc B, sinh năm 2000, hiện đã trưởng thành,
không đặt ra yêu cầu xem xét.
Tài sản chung: Ông Lử Văn P xác định ông và bà Nguyễn Kiều T không có
tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu xem xét.
Trình bày của bà Nguyễn Kiều T:
2
Bà Nguyễn Kiều T thống nhất với lời trình bày của ông Lử Văn P về các mối
quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Tại phiên tòa, bà T thống
nhất ly hôn với ông P, con chung tên Lữ Phú Đ, sinh năm 1999 và Lữ Ngọc B, sinh
năm 2000 hiện đã trưởng thành, tài sản chung bà và ông P tự thỏa thuận, vợ chồng
không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Lử Văn P khởi kiện yêu
cầu được ly hôn với bà Nguyễn Kiều T. Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về
việc ly hôn; Bà Nguyễn Kiều T có nơi cư trú tại Ấp A, xã TL, tỉnh Cà Mau. Vì
vậy, yêu cầu khởi kiện của ông P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
Khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Hôn nhân: Ông Lử Văn P và bà Nguyễn Kiều T tự nguyện chung
sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT. Vợ chồng chung sống
không hạnh phúc nên ông P yêu cầu ly hôn với vợ là bà T. Xét thấy, quan hệ hôn
nhân giữa ông P và bà T đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên
được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, ông P xác định
không còn tình cảm với bà T, ông bà không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục
đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà T. Quá trình
giải quyết vụ án, các đương sự không thống nhất tự nguyện đoàn tụ với nhau. Vì
vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.