CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxét xử số 33/2026/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên
T), thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại
phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Mai Đăng Ẩ trình
bày:
Ngân hàng TMCP K cho ông Nguyễn Hữu H1, bà Bùi Thị Xuân H vay vốn
theo Hợp đồng tín dụng số 143/18/HĐTD/0500-3793 ngày 04/7/2018, Giấy đề nghị
kiêm giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 23103783/KUNN.CN: Số tiền vay
265.000.000đ, ngày giải ngân 04/7/2018, ngày đến hạn 04/7/2023, mục đích vay mua
xe ô tô; Lãi suất cho vay: Lãi suất trong hạn: 11,61%/năm (có điều chỉnh), lãi suất
quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm; Hình thức
thanh toán: Gốc, lãi trả 60 kỳ, trả định kỳ vào ngày 04 hàng tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng trên, ông H1, bà H chỉ trả được số tiền
31.197.810đ, trong đó: 22.000.000đ nợ gốc và 9.197.810đ nợ lãi trong hạn. Kể từ
ngày 04/12/2018 ông H1, bà H không thực hiện theo cam kết, Ngân hàng đã gửi
nhiều Thông báo, Công văn yêu cầu trả nợ và bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân
hàng xử lý theo đúng quy định nhưng ông H1, bà H không thực hiện. Khoản vay đã
bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn ngày 03/01/2019. Khoản vay này
chúng tôi chưa bán nợ cho tổ chức, cá nhân nào.
Tính đến ngày 02/4/2026, ông Nguyễn Hữu H1, bà Bùi Thị Xuân H còn nợ
K1 số tiền là 565.679.219đ (Năm trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi chín
nghìn, hai trăm mười chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 243.000.000đ, nợ lãi trong hạn:
66.701.633đ, tiền phạt chậm trả lãi: 38.327.768đ, phạt chậm trả gốc: 217.649.818đ.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, K1 yêu cầu ông H1, bà H phải thanh
toán tổng số tiền nêu trên. Đồng thời, yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến ngày ông H1, bà H thanh toán hết nợ cho
K1.
* Bị đơn ông Nguyễn Hữu H1, bà Bùi Thị Xuân H không đến Tòa án để trình bày
ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện cũng như không tham gia phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa mặc dù đã được
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.