Số: 05/2026/Q
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐÀ NẴNG Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có: - Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mận
Điều 32. Luật số 73/2021/QH14 về Luật phòng, chống ma túy ngày 30/3/2021 của
Quốc Hội khóa 14. Do đó, Công an xã L lập hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Hà Nhật T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2 Tại phiên họp, đại diện Công an xã L giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa Hà Nhật T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2. Hà Nhật T có đơn xin giả quyết vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: - Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về việc thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. - Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Công an xã L về việc đưa Hà Nhật T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ 18 đến 21 tháng. Người bị đề nghị đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành mở phiên họp xem xét, giải quyết vắng mặt đối với người bị đề nghị theo quy định của pháp luật. Sau khi xem xét hồ sơ, ý kiến của cơ quan đề nghị là Công an xã L và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng; XÉT THẤY Ngày 21/11/2022, Hà Nhật T có đăng ký cai nghiện tự nghiện theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và được Trung tâm kiểm soát bệnh tật Quảng Nam tiếp nhận điều trị. Tuy nhiên, đến ngày 22/05/2025 thì Hà Nhật T vi phạm quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 36 nghị định 141/2024/NĐ-CP nên Trung tâm kiểm soát bệnh tật có thông báo chấm dứt điều trị đối với Hà Nhật T. Ngày 24/09/2025, Công an xã L có mời Hà Nhật T lên làm việc tuy nhiên Hà Nhật T đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ nơi cư trú. Ngày 23/11/2025, Hà Nhật T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Ủy ban nhân dân xã L đưa vào diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý theo quyết định số 502/QĐ-UBND ngày 01/12/2025. Ngày 01/12/2025, Công an xã L có chuyển nguồn tin trên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng để làm rõ, xem xét có vi phạm theo quy định tại Điều 256a không. Tuy nhiên, ngày 02/04/2026 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng có kết luận số D1052/QĐ-CSMT về việc không khởi tố vụ án “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Ngày 02/02/2026, Công an xã L tiến hành mời xét nghiệm chất ma tuý đối với Hà Nhật T kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể là dương tính với chất ma tuý, loại Methaphetamin. Ngày 02/02/2026, Công an xã L có công văn đề nghị xác định tình trạng nghiện đối với Hà Nhật T, tại “Phiếu kết quả xác định tình 3 trạng nghiện ma tuý” của Trung tâm y tế khu vực T, thể hiện Hà Nhật T “nghiện ma tuý”. Công an xã L, thành phố Đà Nẵng đã thông báo cho Hà Nhật T về việc thực hiện đăng ký cai nghiện theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ nhưng Hà Nhật T không thực hiện. Vậy, Hà Nhật T có sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy nhưng không thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 32 Luật Phòng, Chống ma túy năm 2021. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đã nghiện ma túy. Kết quả xét nghiệm cho thấy dương tính với ma túy, loại Methaphetamin. Do đó, việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Nhật Tân là cần thiết nên chấp nhận đề nghị của Công an xã L, thành phố Đà Nẵng. Hà Nhật T có nhân thân xấu, từng có hành vi trốn tránh, bỏ đi khỏi địa phương, không chấp hành quy định. Tuy nhiên, sau khi vi phạm thì Hà Nhật T đã tự nguyện khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên xem xét giảm nhẹ cho Hà Nhật T một phần thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện. Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Nhật T là đảm bảo thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Về thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự, thủ tục lập hồ sơ: đảm bảo quy định tại
Điều 103. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật Phòng, Chống ma túy năm 2021; các
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy
Ngày 22 tháng 04 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng
tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/2026/QĐ-TA
ngày 16 tháng 04 năm 2026 đối với:
Họ và tên: Hà Nhật T, sinh năm: 1979; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:
Thôn 10, xã L, thành phố Đà Nẵng; con ông Hà C (chết) và bà Nguyễn Thị H, 98
tuổi.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Viết Quốc, Phó Trưởng Công an xã
L, thành phố Đà Nẵng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng: Nguyễn Thị Mai
Cúc - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Hà Nhật T là người nghiện ma túy. Kết quả xét nghiệm cho thấy dương tính
với ma túy, loại ma túy đá (Methamphetamine). Hà Nhật T đã có hành vi vi phạm
không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện tại khoản 3
Điều 6. , 9, 95, 96, 103, 104; khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm
hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, Chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Căn cứ Điều 20, 21, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng, các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; 4
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với Hà Nhật T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng kể
từ ngày 02/02/2026.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án.
4. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị
quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định theo quy định.
5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Công an xã Lãnh Ngọc, Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 có trách nhiệm thi
hành quyết định này. Nơi nhận: - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND khu vực 7 – Đà Nẵng; - Công an xã Lãnh Ngọc, tp Đà Nẵng; - Cơ sở Cai nghiện ma túy số 2; - Hà Nhật T; - Lưu hồ sơ + Án văn. THẨM PHÁN Nguyễn Thị Mận
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.