CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchoãn phiên tòa số 45/2026/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2026 giữa các
Điều 56. ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trương Thị Hồng H: - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Hồng H và ông Sín T Sáng được ly hôn với nhau. - Về con chung: Hiện nay các con chung là Sín Ngọc T1, sinh ngày 01/4/2004 và Sín Ngọc C, sinh ngày 03/8/2006 đã đủ 18 tuổi, cháu có quyền quyết định cuộc sống riêng của mình nên không đề cập giải quyết. 3 Giao cháu Sín Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2014 cho bà Trương Thị Hồng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. - Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. - Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy: [1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trương Thị Hồng H yêu cầu ly hôn với ông Sín Tỷ S, địa chỉ cư trú tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1
Điều 28. ; Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2015/QH15, thì đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn bà Trương Thị Hồng H có Đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. [2] Về nội dung vụ án: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Hồng H và ông Sín T Sáng kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 17/5/2003 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Trương Thị Hồng H và ông Sín T Sáng chung sau khi về chung sống với nhau thì đến khoảng tháng 4 năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo bà Trương Thị Hồng H trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Quá trình chung sống tại địa phương thì ông bà phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân cụ thể thì địa phương không nắm do ông bà không yêu cầu hòa giải ở địa phương.” Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc bà Trương Thị Hồng H xét thấy không còn tình cảm với ông Sín Tỷ S, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, dẫn đến mâu thuẫn cuộc 4 sống kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Trương Thị Hồng H, cho bà Trương Thị Hồng H được ly hôn với ông Sín T Sáng. [2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Trương Thị Hồng H và ông Sín T Sáng có 03 con chung là Sín Ngọc T1, sinh ngày 01/4/2004; Sín Ngọc C, sinh ngày 03/8/2006; Sín Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2014. Quá trình giải quyết vụ án: Hiện nay, con chung là Sín Ngọc T1 và Sín Ngọc C đã đủ 18 tuổi. Tòa án đã tiến hành triệu tập cháu Sín Ngọc T2 đến Tòa án để ghi ý kiến, cháu T2 có nguyện vọng xin được ở với mẹ và bà H cũng có nguyện vọng xin được nuôi cháu T2. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần giao cháu T2 cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Hồng H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3] Về án phí: Nguyên đơn bà Trương Thị Hồng H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bị đơn ông Sín T Sáng không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227,
2
Sống chung hạnh phúc được một thời gian thì đến khoảng tháng 4 năm 2019
thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống,
không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn khả
năng đoàn tụ nên tôi có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Sín T Sáng.
Về con chung: Tôi và ông S có 03 con chung:
1./ Sín Ngọc T1, sinh ngày 01/4/2004
2./ Sín Ngọc C, sinh ngày 03/8/2006
3./ Sín Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2014
Các con chung là Sín Ngọc T1 và Sín Ngọc C đã đủ 18 tuổi, nên tôi không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Sín Ngọc T2
theo nguyện vọng của con chung cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên. Tôi làm nghề
tóc, có nơi ở, thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án;
Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Sín T Sáng nhưng ông Sín T Sáng
vẫn vắng mặt, không có lý do. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk trình bày:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ theo
quy định của pháp luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ
trông chấp, đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Trong quá
trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định
tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đầy
đủ quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều
147; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53; khoản 1
Điều 228. , Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2015/QH15; Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Hồng H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Hồng H được ly hôn với ông Sín T
Sáng.
2. Về con chung:
Hiện nay các con chung là Sín Ngọc T1, sinh ngày 01/4/2004 và Sín Ngọc C, sinh ngày 03/8/2006 đã đủ 18 tuổi, cháu có quyền quyết định cuộc sống riêng của mình nên không đề cập giải quyết. 5 Giao con chung là cháu Sín Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2014 cho bà Trương Thị Hồng H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Sín Ngọc T2 đủ 18 tuổi. Ông Sín T Sáng có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.
5. Về án phí: Bà Trương Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly
hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0004059 ngày 05/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”. Nơi nhận: - TA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu vực 1 - Đắk Lắk; - Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; - UBND phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu: HS +VP. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Loan
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.