CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 08 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng,
2
* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tổ dân phố
K, phường C, thành phố Hải Phòng.
Chị L1, anh T, ông T1, bà T2, bà C đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án,
nguyên đơn - chị Phan Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với
nhau ngày 11/07/2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V,
thành phố C, tỉnh Hải Dương (N là phường C, thành phố Hải Phòng). Vợ chồng
chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất
đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi
nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài mấy năm nay, đã tìm cách khắc phục và cho
nhau nhiều cơ hội nhưng tình trạng mâu thuẫn không được cải thiện. Từ đầu năm
2024, chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn C, xã H, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống
ly thân, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, người nào
biết bổn phận người đó. Nay vợ chồng xác định tình cảm vợ chồng không còn,
không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với
anh T. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Phan Nhật A, sinh
ngày 21/9/2022. Hiện tại, cháu đang sống cùng với chị và ông bà ngoại là ông
Phan Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2. Khi ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi
dưỡng con chung và không yêu cầu anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi
con chung với chị. Hiện tại, chị chuẩn bị đi xuất khẩu lao động nên chị đề nghị
tạm giao cháu A cho ông bà ngoại cháu nuôi dưỡng trong thời gian chị không có
mặt ở Việt Nam. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị tự
nguyện chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng
đã nhiều lần tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định
pháp luật nhưng bị đơn - anh Nguyễn Văn T không đến Tòa án làm việc và không
gửi văn bản nêu ý kiến quan điểm đối với yêu cầu của nguyên đơn.
- Ông Phan Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 là bố mẹ đẻ của chị L trình bày:
Sau khi kết hôn, anh T, chị L ở tại gia đình nhà bố mẹ đẻ anh T. Thời gian đầu
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.