CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQuyết định hoãn phiên tòa số 52/2026/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2026
Thị Huyền T1, sinh ngày 19/01/1988 và Nguyễn Thị T2, sinh ngày 01/5/1990.
2
Sau khi bà T sinh con thứ 02 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên bà
T về quê sinh sống còn ông V ở lại tỉnh Đắk Lắk công tác, vợ chồng ở xa nhau
nên không còn tình cảm. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài hơn 30 năm,
giữa ông, bà đã không còn tình cảm vợ chồng, không còn yêu thương quý trọng
nhau nữa, vì vậy đề nghị Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn
Quang V.
Về con chung: Hiện nay các cháu đã trưởng thành và đã có gia đình riêng
nên bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Quang V đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Do đó không thể tiến
hành lấy lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải được. Vì vậy, Tòa án Nhân dân khu vực 1 – Đắk
Lắk đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
3. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk
phát biểu như sau:
- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý
đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với đương sự (nguyên đơn, bị đơn): Quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp
hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc yêu
cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Quang V. Về con chung: Bà T và ông V có
02 con chung là Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 19/01/1988 và Nguyễn Thị T2,
sinh ngày 01/5/1990, hiện nay các con chung đã trưởng thành nên bà T không yêu
cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Toà án
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.