CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxử số 10/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
sống, mâu thuẫn trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình và do vợ chồng có
khoảng cách về mặt địa lý dẫn tới xảy ra cãi vã. Kể từ khi anh N đi lao động tại Nhật
Bản, anh chị sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Từ khi ly thân vợ chồng không
2
còn liên lạc, quan tâm đến nhau nữa, chị T xác định không còn tình cảm với anh N
và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Chị T xác định vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu
Nguyễn Mai L, sinh ngày 23/11/2012, cháu Nguyễn Trúc L1, sinh ngày 09/5/2015
và cháu Nguyễn Bảo L2, sinh ngày 21/03/2020. Khi ly hôn, chị đề nghị giao các con
chung cho anh Nguyễn Văn N (bố đẻ của các cháu) nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu
đến khi các cháu đủ 18 tuổi và tạm thời giao cả 03 cháu cho ông bà nội của các cháu
(bố mẹ đẻ của anh N) nuôi dưỡng giúp anh N cho đến khi anh N về nước.
Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 03 con chung với số tiền 3.000.000
đồng/tháng (Ba triệu đồng/tháng) cho cả 03 cháu, tức là mỗi cháu 1.000.000 đồng /
tháng, kể từ khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến
khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị và anh N tự thỏa thuận, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng
mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Quan Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện,
đã đăng ký kết hôn vào ngày 03/01/2013, tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L (nay là
UBND xã L), tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại
thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (Nay là thôn N, xã L, tỉnh Tuyên Quang).
Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, đến khoảng năm 2022, anh N đi lao động
tại Nhật Bản, vợ chồng anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn
là do anh đi Nhật Bản làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc vợ con và do bất đồng
quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên anh và chị T đã ly thân kể từ năm
2022 cho đến nay mà không hề có sự hỏi han, quan tâm đến nhau. Nay chị T yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của chị T theo
quy định của pháp luật để giải phóng cho cả hai đi tìm hạnh phúc riêng.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.