- Ngày ban hành: 15/05/2024
1
ÁN LỆ SỐ 71/2024/AL1
Về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết
định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày
20, 21, 23 tháng 02 năm 2024 và được công bố theo Quyết định số 119A/QĐ-CA
ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 14/2022/DS-GĐT ngày 28/4/2022 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng
đất và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân” giữa
nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu H với bị đơn là bà Nguyễn Thị C; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 04 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 3, 4 và 6 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu
lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nguyên đơn tiếp tục khởi kiện vụ án
dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất đó và yêu cầu hủy quyết định đã có hiệu lực
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nguyên đơn không đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã
được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Khoản 1, 2 Điều 34 và điểm c, đ khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều
217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 (tương ứng với Điều 136 Luật Đất đai
năm 2003; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013).
Từ khóa của án lệ:
“Không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”; “Đã được giải quyết
bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”; “Đình chỉ giải
quyết vụ án”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 08/12/2014 và đơn khởi kiện bổ sung ngày
18/5/2015, nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu H trình bày:
1 Án lệ này do Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
-- 1 of 5 --
2
Trước đây, cha mẹ của ông Nguyễn Tấn T (là chồng của bà, chết năm 2007)
là cụ Nguyễn Tấn K và cụ Thái Thị H1 nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị S diện
tích 20.000ha đất cao su, trong đó diện tích đăng ký theo trích lục địa bộ năm
1973 là 17.000ha, diện tích chưa đăng ký khoảng hơn 4ha. Ngoài ra, cụ K, cụ H1
còn nhận chuyển nhượng của bà Hứa Thị M diện tích hơn 20.000ha đất cao su,
trong đó diện tích đăng ký theo trích lục địa bộ năm 1973 là 17.000ha, diện tích
chưa đăng ký khoảng hơn 4ha. Năm 1975, cụ K, cụ H1 đăng ký kê khai sử dụng
toàn bộ diện tích đất nêu trên với chính quyền địa phương. Khi cụ K, cụ H1 chết
thì ông T đăng ký, kê khai ruộng đất và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N,
tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/7/1992.
Toàn bộ diện tích đất nêu trên gia đình bà luôn quản lý, sử dụng ổn định.
Ngày 08/12/1987, gia đình bà Nguyễn Thị C gặp nhiều khó khăn nên ông T cho
bà C tạm thời canh tác trên diện tích đất khoảng 2,5 sào để sản xuất hoa màu làm
kinh tế, phụ gia đình. Quá trình canh tác, bà C đã lấn chiếm thêm đất của gia đình
bà, đồng thời xây dựng nhà kiên cố trên đất mượn. Mặc dù, đất tranh chấp năm
1992 nhưng không hiểu vì sao năm 1993 bà C vẫn kê khai nộp được thuế. Ngày
09/10/1998, bà C làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích
đất bà C xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bà C mượn của gia đình
bà canh tác, đất nằm trong hành lang lộ giới và đất đang có tranh chấp nhưng
không hiểu sao Hội đồng xét duyệt cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã Q
lại xác nhận nguồn gốc đất của bà C có “nguồn gốc ông T cho năm 1987 và bà C
sử dụng ổn định phù hợp với quy hoạch”. Ngày 09/8/2002, Ủy ban nhân dân huyện
N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C với diện tích 2.526m2. Ngày
21/12/2006, Ủy ban nhân dân huyện N cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho bà C với diện tích 1.962m2 đất.
Bà đã nhiều lần yêu cầu bà C trả toàn bộ thửa đất nêu trên, nhưng bà C
không trả. Do đó, bà đề nghị Tòa án buộc bà C trả bà diện tích đất nêu trên.
Bị đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:
Năm 1975, bà từ quê vào miền Nam lập nghiệp ở xã Q, huyện N, tỉnh Đồng
Nai. Thời điểm đó, gia đình bà gồm có bà, bà Nguyễn Thị H2 (em gái bà), anh
Nguyễn Thanh L (con bà).
Thời gian đầu lập nghiệp bà xin làm công nhân cạo mủ cho đồn điền cao su
do ông Nguyễn Tấn T làm chủ. Tuy nhiên, do gia đình không có đất canh tác và
gia đình phát cỏ, canh tác trồng hoa màu (khoai lang, đậu, bắp, ...) trên diện tích
đất hiện đang có tranh chấp. Thực tế, bà và gia đình cũng không rõ đất thuộc
quyền quản lý của ai. Lúc đó, ông T sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh thỉnh
thoảng có về trông coi đất và nói với bà là đất hiện gia đình bà đang canh tác là
đất của ông T nên bà có ngỏ lời xin đất này để canh tác và được ông T đồng ý.
Ngày 08/12/1987, ông T viết “Giấy xác nhận” cho bà diện tích đất nêu trên.
Sau khi ông T viết giấy cho đất, gia đình bà tiếp tục quản lý và canh tác
trồng tiêu, cà phê trên đất. Năm 1994-1995, ông T có nhu cầu nới rộng diện tích
trồng cao su nên có liên hệ với Ủy ban nhân dân xã mời các hộ sinh sống trên đất
tiếp giáp với vườn cây cao su của ông T để thương lượng đền bù (trong đó có hộ
gia đình bà) nhưng gia đình bà không đồng ý thương lượng vì ngoài diện tích đất
nêu trên gia đình bà không còn diện tích đất nào khác để canh tác. Năm 1995, ông
-- 2 of 5 --
3
T đã tranh chấp với bà. Năm 2000, gia đình ông T lại tiếp tục kiện gia đình bà đòi
lại đất. Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện N ban hành Quyết định số
1627/QĐ và ngày 19/12/2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số
4835/QĐ bác đơn khiếu nại của ông T về việc tranh chấp diện tích đất đã cho gia
đình bà từ năm 1987. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu của bà H về việc đòi
diện tích đất nêu trên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày
31/10/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 41/2015/TLST-DS ngày
14/10/2015 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định
giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân” giữa:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm 1953; địa chỉ: 271/8 đường N,
Phường X, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Sin Thoại K, sinh năm 1973
(theo văn bản ủy quyền ngày 22/12/2014); Hộ khẩu thường trú: 1/5J đường P,
Phường V, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ liên lạc: 244 đường B,
Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1939, địa chỉ: F3/113 ấp S, xã Q, huyện
N, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; địa chỉ: số 02 đường V, phường T, thành phố
B, tỉnh Đồng Nai.
2. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Ấp L, xã X, huyện N,
tỉnh Đồng Nai.
3. Anh Nguyễn Thanh L, địa chỉ: F3/113 ấp S, xã Q, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
4. Bà Nguyễn Thị H2, địa chỉ: F3/113 ấp S, xã Q, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án
dân sự này.
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền
kháng cáo.
Ngày 12/12/2018, bà H kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự nêu trên.
Tại Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án số 154/2019/QĐ-PT ngày 08/5/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị Thu H, hủy Quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi có Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án nêu trên, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai kiến nghị
-- 3 of 5 --
4
với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị kháng nghị Quyết định giải quyết
việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 154/2019/QĐ-PT
ngày 08/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh theo
thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2022/KN-DS ngày
14/3/2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Quyết định giải quyết
việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 154/2019/QĐ-PT
ngày 08/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề
nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy
Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án nêu trên và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số
55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất
trí với Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Diện tích 1.962m2 đất các đương sự có tranh chấp là thửa đất số 72, tờ
bản đồ số 17 (thửa cũ 56, tờ bản đồ số 12), tờ bản đồ số 17, tại xã Q, huyện N,
tỉnh Đồng Nai.
[2] Năm 1995, thửa đất nêu trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, ông Nguyễn Tấn T (là chồng bà H) đã tranh chấp quyền sử dụng thửa
đất với bà C nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc Ủy ban nhân dân
huyện N, theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993.
[3] Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện N có Quyết định giải quyết
khiếu nại số 1627/QĐ.CT.UBH, bác đơn khiếu nại của ông T về việc đòi lại diện
tích đất 2.152,15m2 mà ông T đã viết giấy cho bà C ngày 08/12/1987. Không
đồng ý với Quyết định này, ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Đ. Ngày 19/12/2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có Quyết định
giải quyết khiếu nại số 4835/QĐ.CT.UBT, với nội dung: Công nhận quyết định
số 1627/QĐ.CT.UBH ngày 21/11/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N
về việc giải quyết khiếu nại của ông T và bà C là đúng với quy định của pháp
luật; bác đơn khiếu nại của ông T.
[4] Như vậy, diện tích đất bà H tranh chấp với bà C đã được giải quyết tại
Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh Đ có hiệu lực thi hành.
[5] Ngày 04/8/2002, bà C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 21/12/2006, bà C được cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[6] Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 là đúng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày
31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa
án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
là không có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
-- 4 of 5 --
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 2 Điều 343, Điều 344 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2022/KN-DS
ngày 14/3/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
2. Hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án số 154/2019/QĐ-PT ngày 08/5/2019 của Tòa án nhân dân câp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu
cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân” giữa nguyên đơn
là bà Đặng Thị Thu H với bị đơn là bà Nguyễn Thị C và những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
3. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số
55/2018/QĐST - DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[3] Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện N có Quyết định giải quyết
khiếu nại số 1627/QĐ.CT.UBH, bác đơn khiếu nại của ông T về việc đòi lại diện
tích đất 2.152,15m2 mà ông T đã viết giấy cho bà C ngày 08/12/1987. Không
đồng ý với Quyết định này, ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Đ. Ngày 19/12/2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có Quyết định
giải quyết khiếu nại số 4835/QĐ.CT.UBT, với nội dung: Công nhận quyết định
số 1627/QĐ.CT.UBH ngày 21/11/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N
về việc giải quyết khiếu nại của ông T và bà C là đúng với quy định của pháp
luật; bác đơn khiếu nại của ông T.
[4] Như vậy, diện tích đất bà H tranh chấp với bà C đã được giải quyết
tại Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Đ có hiệu lực thi hành.
…
[6] Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 là đúng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày
31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa
án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
là không có cơ sở.”
-- 5 of 5 --
Văn bản071/2024Ban hành: 15/05/2024Còn hiệu lực
Văn bản 071/2024 (2024)
🌐 Tên văn bản theo 7 thứ tiếng (bản dịch máy, tham khảo)
- EnglishDocument 071/2024 — Vietnam (2024)
- 中文文件 071/2024 — 越南 (2024)
- 日本語文書 071/2024 — ベトナム (2024)
- 한국어문서 071/2024 — 베트남 (2024)
- FrançaisDocument 071/2024 — Vietnam (2024)
- РусскийДокумент 071/2024 — Вьетнам (2024)
- EspañolDocumento 071/2024 — Vietnam (2024)
⚠ Tiêu đề chi tiết chưa được trích xuất
Tiêu đề chi tiết của Văn bản chưa được trích xuất từ nguồn - tải PDF để xem nội dung vụ việc cụ thể.
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.