CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khởi kiện đến ngày 25 tháng 02 năm 2026 và các lời khai tiếp theo
10-2009. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất
2
đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2021,
không ai còn quan tâm đến nhau. Anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu
cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Triệu Thị Thanh H.
Về con chung: Anh L và chị H có 01 con chung là Trần Triệu Ngọc H1, sinh
ngày 14-10-2010. Hiện con chung đang ở với bố. Ly hôn anh L có yêu cầu được trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung và công nợ chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai chị Triệu Thị Thanh H trình bày về quan hệ hôn nhân, sống
chung, mâu thuẫn, ly thân đúng như anh Trần Đức L trình bày. Anh L đề nghị ly
hôn, chị H đồng ý ly hôn với anh L. Về con chung: có 01 con chung là Trần Triệu
Ngọc H1, sinh ngày 14-10-2010. Hiện con chung đang ở với bố. Ly hôn chị H có
yêu cầu để anh L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị H không cấp
dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Đối với các văn bản Toà án giao, chị H đã nhận được, tuy nhiên do tính chất
công việc rất bận không thể đi lại được nên chị H có đơn đề nghị Toà án giải quyết,
xét xử vụ án vắng mặt.
Tại đơn xin xác nhận ngày 25-3-2026 của anh Trần Đức L, trưởng Thôn Khe
Nhàn, xã B và UBND xã B xác nhận về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn và con
chung giữa anh L và chị H đúng như anh L trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp
luật của vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo đơn khởi kiện của anh Trần Đức
L. Do bị đơn chị Triệu Thị Thanh H có hộ khẩu thường trú tại Thôn K, xã B, tỉnh
Lào Cai. Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại
khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân khu vực 2 –
Lào Cai có thẩm quyền giải quyết.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.